Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn viên
01233.102.102
Video
Đối tác
Nhờ người thân đứng tên trong đơn xin cấp đất có thể đòi lại được không?

Chào Luật Sư, tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ . Năm 1984 trước do tôi công tác xa nhà nên không về được để làm đơn xin chính quyền thôn xã cấp đất cho. Tôi đã nhờ em trai đứng tên trong đơn giúp . Năm 2000 tôi trở về xây nhà trên mảnh đất đó, 2002 mảnh đất đó được cấp sổ đỏ đứng tên tôi. Từ đó đến nay hàng năm tôi vẫn đóng thuế nhà đất đầy đủ, phiếu thu đứng tên tôi. Nhưng tới năm 2009 em trai tôi đòi lại đất mà tôi đang ở và có đưa cho tôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất mà tôi đang ở. Lúc đó tôi mới biết rằng em trai mình đã dùng quan hệ sang tên sổ đỏ đứng tên nó và mọi chữ ký của tôi đều là giả mạo.

        Hơn hết trong hồ sơ lưu giữ tôi thấy : Đơn đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên em tôi, Hồ sơ thửa đất đứng tên em tôi và hợp đồng chuyển nhượng đều ký ngày 5.1.2004; còn đơn xin đăng ký biến động đất đai đứng tên tôi ký ngày 4.1.2005, tờ trình thẩm tra hồ sơ đăng ký biến động đất đai đứng tên tôi ký ngày 5.11.2005. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên em tôi được ký năm 2007. Tôi không hiểu quy định của pháp luật cho lắm mong được luật sư hướng dẫn cụ thể để tôi không bị mất đất.

Tôi cảm ơn Luật Sư!

Kết quả hình ảnh cho đất đai

I. Căn cứ pháp lý:

        - Luật đất đai 2013

        - Nghị định 43/2014/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất Đai 2013.

        - Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009

 

II. Nội dung trả lời:

        Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng khi gửi câu hỏi đến cho bộ phận tư vấn pháp luật của LSX. Về vấn đề của bạn tôi xin được tư vấn cụ thể như sau: 

1. Về các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất.

            Theo quy định tại điều 79 nghị định 43/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất Đai 2013 trình tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau: 

 

       

        Như vậy, sau khi hai bên xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phải thực hiện các thủ tục trên để được công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Và sau khi đã thực hiện hết các thủ tục này thì người chuyển nhượng mới đủ điều kiện đăng ký biến động đất đai. Việc đăng ký biến động đất đai chỉ diễn ra sau khi đã có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đơn đăng ký kèm theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, trong hồ sơ trên đơn đăng ký biến động đất đai ký ngày 4.1.2005 còn hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 5.1.2004 là không đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

- Vì thời hạn thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

+ Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ thì trong thời gian không quá 03 ngày cơ quan có thẩm quyền phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.

+ Đối với các xã miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xã, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn thì thời gian được tăng thêm 15 ngày.

             Trong trường hợp của bạn thì việc em trai bạn cung cấp đơn xin đăng ký biến động đất đai đứng tên bạn ký ngày 4.1.2005, tờ trình thẩm tra hồ sơ đăng ký biến động đất đai đứng tên bạn được ký ngày 5.11.2005 là không đúng với quy định của pháp luật.

2. Theo thông tin trên bạn cung cấp thì em trai bạn đã giả chữ ký của bạn - Nhằm mục đích chiếm đoạt diện tích đất của bạn. 

          Em trai bạn đã có hành vi gian dối ( giả mạo chữ ký và giấy tờ ) nhằm chiếm đoạt quyền sử dụng đất của bạn. Hành vi đó được thể hiện cụ thể trên những giấy tờ ký kết đều là chữ ký giả mạo để nhằm mục đích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Với động cơ và mục đích rõ ràng như vậy em trai bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 Bộ Luật hình sự.  

 

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

        Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể tố cáo ra cơ quan công an hoặc làm đơn đề nghị giiar quyết tranh chấp đất đai tới Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của Luật đất đai 2013. Do bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế nên bạn nên nộp đơn đề nghị giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất tới Ủy ban Nhân dân cấp xã.

Trên đây là ý kiến tư vấn của tôi bạn có thể tham khảo để đưa ra cách giải quyết tốt nhất. 

 


ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ

Call: 01233.102.102 
 
Hân hạnh được phục vụ!