Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn viên
01233.102.102
Video
Đối tác
Kết thúc hợp đồng thử việc thì có được nghỉ việc không?

       Tôi đang làm việc tại một Công ty vệ sinh môi trường đô thị tại quận Tây Hồ - Hà Nội, Tôi bắt đầu đi làm từ ngày 20/12/2017, Công ty thỏa thuận thời gian thử việc đến 20/03/2017, tiền lương được trả bằng 70% mức lương của công việc. Khi hết thời gian thử việc tôi là nhân viên chính thức

       Vậy xin hỏi: Việc Công ty thỏa thuận như vậy có đúng không? Đến nay đã qua thời hạn trên nhưng Công ty không ký hợp đồng chính thức với tôi, vậy tôi có trở thành nhân viên chính thức của Công ty không? Trong trường hợp này, nếu tôi muốn nghỉ việc thì có phải báo trước cho Công ty hay không?

 

Kết quả hình ảnh cho hợp đồng lao động

1.     Căn cứ pháp lý

-         Bộ luật lao động 2012

-          Nghị định 95/2013/NĐ-CP

-         Nghị định 05/2015/NĐ-CP

2.     Trả lời

      Thứ nhất, căn cứ theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì các thỏa thuận về việc thử việc của Công ty là không đúng với các quy định của pháp luật, cụ thể:

          - Thời gian thử việc vượt quá thời gian so với quy định của pháp luật

          - Công việc nạo vét bùn cống ngầm là công việc cần người lao động chân tay, có sức khỏe, không nhất thiết phải cần đến người lao động có trình độ trung cấp trở lên. Căn cứ theo Khoản 3 Điều 27 -  Bộ luật lao động 2012 thì thời gian thử việc của bạn đối với công việc này là không quá 6 ngày làm việc. Do đó, thỏa thuận thời gian thử việc từ 20/12/2015 đến 20/03/2016 (90 ngày) là không đúng với quy định của pháp luật.

          - Tiền lương thử việc thấp hơn mức quy định tối thiểu của pháp luật. Căn cứ quy định tại Điều 28 - Bộ luật lao động năm 2012 thì tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Do đó, thỏa thuận mức lương thử việc chỉ bằng 70% mức lương của công việc là không đúng với quy định của pháp luật.

        Thứ hai, sau khi thời gian thử việc kết thúc bạn có trở thành nhân viên chính thức của Công ty hay không? Bạn có cần thực hiện nghĩa vụ báo trước khi muốn nghỉ việc hay không?

       Căn cứ quy định tại Điều 29 - Bộ luật lao động năm 2012, Điều 7 - Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động theo thỏa thuận hết thời hạn thử việc bạn đương nhiên trở thành nhân viên chính thức của Công ty. Quyền hạn và trách nhiệm của bạn được xác định trên cơ sở Hợp đồng thử việc đã ký và quy định của pháp luật liên quan.

     Theo đó, khi bạn muốn nghỉ việc, bạn cần có đề nghị chấm dứt quan hệ lao động đối với Công ty, có hai khả năng sau có thể xảy ra:

      + Nếu Công ty đồng ý với đề nghị của bạn thì hai bên thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động;

     + Nếu Công ty không đồng ý với đề nghị của bạn thì bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật. Tại Điều 37 - Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động như sau:

 

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

 

ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ

Call: 01233.102.102