Tìm hiểu về hình phạt tử hình

Một trong những quyền quan trọng nhất, thiêng liêng nhất của mỗi con người đó là quyền được sống. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những đối tượng đã có hành vi vi phạm pháp luật, gây nên những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội thì pháp luật quy định cần thiết phải tước đi mạng sống của những đối tượng này. Do đó, hình phạt tử hình được coi là hình thức thực thi pháp luật, bảo vệ an ninh, an toàn xã hội.

Căn cứ:

Nội dung tư vấn

Việc tước đi mạng sống của kẻ gây ra tội lỗi nghiêm trọng đã hình thành từ rất lâu trong quá khứ. Nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật. Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, đối với từng thể chế chính trị, nhà nước khác nhau thì có những quy định về hình thức hành quyết người tử tù khác nhau. Có thể kể tới những biện pháp hành hình của nhà nước Hy Lạp cổ đại như treo cổ, chôn sống, ném vào vạc dầu,… Hay những hình phạt như ngũ mã phanh thây, tùng xẻo, chém đầu của những nhà nước ở Châu Âu và Trung Quốc trong thời kỳ phong kiến. Tựu chung lại đây đều là những hình thức tước đi mạng sống của tử tù một cách man rợ và đầy ám ảnh. Tuy nhiên nó là có tính chất răn đe và phòng ngừa tội phạm rất cao trong thời kỳ đó. 

Tuy vậy ngày nay, cùng với sự phát triển của loài người khi bước vào thời đại văn minh, các phương thức hành quyết man rợ như vậy đã phần nào chấm dứt. Thay vào đó là các biện pháp mang tính nhân đạo hơn như tiêm thuốc độc, ngồi ghế điện,…. Vừa đảm bảo được tính thực thi pháp luật khi tước đi mạng sống của kẻ phạm tội nguy hiểm, nhưng cũng mang tính nhân đạo cao khi chấm dứt mạng sống của tử tù một cách nhanh gọn, nhẹ nhàng và không đem lại sự đau đớn cho tử tù.

1. Án tử hình là gì? Những đối tượng nào phải chịu án tử hình?

Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật hình sự đó là người phạm tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật bằng cách phải chấp hành những hình phạt do pháp luật quy định. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định 7 mức hình phạt khác nhau, mà trong đó, mức hình phạt cao nhất là tử hình. Căn cứ điều 40 Bộ Luật hình sự hiện hành quy định về hình phạt tử hình như sau:

Điều 40. Tử hình
1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

Như vậy thấy rằng, tử hình là biện pháp trừng phạt đặc biệt dành cho những đối tượng có hành vi phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng, gây ra những hậu quả to lớn cho xã hội. Đó là những tội cần thiết phải tước đoạt mạng sống của người phạm tội, không cho những đối tượng này có cơ hội quay lại cuộc sống xã hội. Trong rất nhiều tội danh được quy định trong Bộ Luật hình sự hiện hành, chỉ có một số tội danh bị áp dụng mức hình phạt nghiêm khác nhất là tử hình này, chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng số các tội danh được quy định. 

Vì là một biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, nhằm tước đi tính mạng của một con người, do đó, việc áp dụng hình phạt tử hình được pháp luật hình sự quy định phải diễn ra theo trình tự và thủ tục tố tụng chặt chẽ. Nhằm đảm bảo tính công bằng, xét xử đùng người đúng tội với người tử tù. Theo đó, án tử hình được tòa án tuyên đối với người phạm tội sau khi đã thực hiện các thủ tụng tố tụng theo quy định của pháp luật, do đó án tử hình mang những đặc điểm như sau:

  • Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, nó tước đi quyền sống của người bị kết án, vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;
  • Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt để từ phía người bị kết án. Hình phạt này không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ;
  • Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong phòng ngừa chung;
  • Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.

 

2. Những đối tượng nào phải chịu án tử hình

Đối tượng bị áp dụng án tử hình là những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, được quy định trong Bộ Luật hình sự có hình phạt là tử hình. Đó là những tội phạm xâm hại mang tính nguy hiểm nghiêm trọng tới an ninh quốc gia, xâm phạm tới tính mạng con người, tội phạm về ma túy,… Tuy nhiên, pháp luật hình sự cũng tuân theo tinh thần nhân đạo, do đó cũng quy định những trường hợp không bị áp dụng hình phạt tử hình. Cụ thể, căn cứ Khoản 2 Điều 40 Bộ Luật hình sự hiện hành thì những đối tượng không bị áp dụng hình phạt tử hình bao gồm:

Như vậy, với tinh thần nhân đạo, pháp luật hình sự quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già, phụ nữ mang thai và trẻ em. Đây được xem là những bộ phận yếu nhân trong xã hội. Bên cạnh đó, đối với những người phạm tội đã bị Tòa án kết án tử hình, nhưng trong quá trình đợi thi hành án phát sinh những yếu tố sau thì sẽ được miễn thi hành án tử hình mà sẽ được xem xét hình thức xử phạt khác. Cụ thể những trường hợp đó là:

Thứ nhất, không thi hành án với phụ nữ có thai hoặc người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Bởi lẽ dựa trên nhận thức, người phụ nữ mang thai đang mang trong mình một sinh linh khác. Dù cho người phụ nữ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng sinh linh mà người đó đang mang trong mình không hề có tội. Sinh linh đó cũng có quyền sống như bao người khác, do vậy, để đảm bảo Hiến pháp được thực thi. Pháp luật quy định việc không thi hành án với những tử tù đang mang thai. Cũng từ quy định này, đã phát sinh những tình huống hy hữu khi những nữ tử tù dùng những biện pháp, thủ đoạn để mang thai sau khi bị tuyên tử hình nhằm trốn tránh việc thi hành án. Đối với trường hợp những tử tù đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, xét thấy đây những dứa trẻ dưới 36 tháng tuổi cần thiết phải có sự chăm sóc và nuôi dưỡng từ người mẹ, bởi vậy, pháp luật cũng thể hiện tính nhân đạo khi không thi hành án với những đối tượng này.

Thứ hai, đối với những tử tù lớn tuổi, pháp luật cũng xét thấy không cần thiết phải thi hành án với những đối tượng này khi họ đã bước qua tuổi 75 – cái tuổi mà đã gần đất xa trời

Thứ ba, không thi hành án tử hình với “người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”. Với những tội danh tham ô, hối lộ mà bị tuyên tử hình, người phạm tội thường tẩu tán tài sản đã trục lợi trái phép và để lại những tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân. Do đó, để nhằm khắc phục phần nào những tổn thất đó, pháp luật hình sự cũng tạo điều kiện, khuyến khích người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả gây ra. 

3. Hình thức thi hành hình phạt tử hình

Trước kia, trong suốt quá trình từ khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tới khi Bộ Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực, hình thức thi hành án tử hình đó là xử bắn. Tuy nhiên, tuân theo đường lối chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong công cuộc cải cách tư pháp, Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực đã quy định thay thế hình thức xử bắn bằng hình thức tiêm thuốc độc. Qua đây thể hiện tính nhân đạo với tử tù khi chấm dứt cuộc sống của tử tù một cách nhanh gọn, nhẹ nhàng và không gây nhiều đau đớn cho họ.

4. Thực trạng thi hành án tử hình hiện nay

Cùng với xu hướng phát triển nhân đạo của loài người, nhiều nước trên thế giới hiện nay đã không còn áp dụng hình phạt tử hình để trừng trị người phạm tội nữa. Hiện này, trên thế giới đã có tổng cộng 136 quốc gia đã loại bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự, mà điển hình tiêu biểu nhất là các quốc gia trong cộng đồng chung Châu âu. Xu hướng này đang có chiều hướng gia tăng khi các tổ chức nhân quyền trên thế giới đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền và tác động tới các chính phủ của các quốc gia nhằm loại bỏ hình phạt từ hình. 

Pháp luật Việt Nam tuy chưa loại bỏ hoàn toàn hình phạt này, tuy nhiên cũng tuân theo xu hướng chung này của thế giới. Đảng và nhà nước ta cũng có những đường lối chủ trương về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ chính trị khi xác định một trong hai nhiệm vụ trọng tâm chính là xem xét, đánh giá hình phạt tử hình. Cụ thể từ Bộ Luật hình sự 1999 cho tới Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đang có hiệu lực hiện nay, số lượng tội danh áp dụng hình phạt tử hình giảm xuống một cách đang kể.  Điều này xuất phát từ nhận thức nhân đạo về quyền sống của con người và là hình phạt không thể sửa chữa được khi có sai lầm trong công tác tố tụng. Bên cạnh đó, thực tiễn của các quốc gia trên thế giới khi xóa bỏ hình phạt này cũng chỉ ra rằng, tình trạng phạm tội không tăng lên ở các quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tử hình. 

Vì lẽ đó, để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế, đồng thời thực hiện những đường lối chỉ đạo đã được Đảng và Nhà nước để ra trong công tác cải cách tư pháp, nhận thấy rằng cần phải có những cải cách cần thiết đối với hình phạt tử hình.

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay