Những hoạt động nhằm nâng cao phúc lợi của doanh nghiệp và chăm lo sức khoẻ cho người lao động luôn được người sử dụng lao động chú trọng. Những điều đấy sẽ tạo nên văn hoá doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người lao động gắn bó hơn với nhau. Những hoạt động hỗ trợ sức khoẻ hoặc bảo hiểm sức khoẻ này của người lao động đều sẽ tốn những khoản phí nhất định. Và theo nguyên tắc kế toán hiện nay những khoản phí của doanh nghiệp đều cần được phân tích và xem có đủ khả năng đưa vào chi phí hay không. Vậy bảo hiểm sức khỏe có được tính vào chi phí hay không? Mời bạn đón đọc bài viết “Bảo hiểm sức khỏe có được tính vào chi phí hợp lý không?” dưới đây để có những thông tin bổ ích.
Căn cứ pháp lý
- Thông tư 96/2015/TT-BTC
- Thông tư 25/2018/TT-BTC
Điều kiện để doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN?
Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thuế lớn mà các doanh nghiệp cần phải cân đối trong kỳ kế toán và trong các hoạt động kinh doanh của mình. Thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được tính trên lợi nhuận mà doanh nghiệp thu về đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý. Chính vì vậy những doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh sẽ cố gắng nâng cao chi phí mà mình phải bỏ ra để được khấu trừ mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao nhất. Hãy cùng Lsx tìm hiểu những điều kiện để một doanh nghiệp được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp nhé.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, cụ thể:
Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
– Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
– Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
– Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh khoản chi phí này).
Đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán bằng tiền mặt phát sinh trước thời điểm Thông tư 78/2014/TT-BTC có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh lại theo quy định tại Điểm này.
Trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có hóa đơn in trực tiếp từ máy tính tiền theo quy định của pháp luật về hóa đơn; hóa đơn này nếu có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp căn cứ vào hóa đơn này và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có hóa đơn in trực tiếp từ máy tính tiền theo quy định của pháp luật về hóa đơn; hóa đơn này nếu có giá trị dưới 20 triệu đồng và có thanh toán bằng tiền mặt thì doanh nghiệp căn cứ vào hóa đơn này và chứng từ thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Như vậy, doanh nghiệp để được trừ mọi khoản chi phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; Có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp; Hóa đơn không thanh toán bằng tiền mặt chi cho mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT).
Bảo hiểm y tế có được coi là bảo hiểm sức khỏe không?
Nhiều doanh nghiệp để thu hút nguồn lao động và xây dựng môi trường làm việc văn minh cùng với những chế độ phúc lợi tốt thì ngoài những điều kiện như luật định còn tham gia cho người lao động những phúc lợi khác một trong số dó có bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ. Bảo hiểm y tế là một loại bảo hiểm nằm trong bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ hiện nay. Ngoài bảo hiểm y tế ra thì còn nhiều loại bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ khác như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm thân thể……
Căn cứ khoản 3 Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010 quy định các loại bảo hiểm sức khỏe:
“Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm
- Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:
a) Bảo hiểm tai nạn con người;
b) Bảo hiểm y tế;
c) Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ.”
Căn cứ Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (có hiệu lực từ 01/01/2023) quy định về các loại hình bảo hiểm:
“Điều 7. Các loại hình bảo hiểm
- Các loại hình bảo hiểm bao gồm:
a) Bảo hiểm nhân thọ;
b) Bảo hiểm sức khỏe;
c) Bảo hiểm phi nhân thọ. - Chính phủ quy định chi tiết các nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với các loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo đó, bảo hiểm y tế cũng được coi là bảo hiểm sức khỏe theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000. Tuy nhiên, theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 (có hiệu lực từ 01/01/2023) thì không còn quy định trực tiếp bảo hiểm y tế là bảo hiểm sức khỏe nữa mà chỉ còn bảo hiểm sức khỏe nói chung.

Bảo hiểm sức khỏe có được tính vào chi phí hợp lý không?
Để được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp thì những chi phí doanh nghiệp bỏ ra phải được tính vào những chi phí hợp lý. Vậy thế nào được coi là chi phí hợp lý? Để được coi là chi phí hợp lý thì những chi phí được bỏ ra phải phục vụ cho hoạt động kinh doanh cần thiết của công ty, những chi phí trực tiếp chi cho người lao động trong những trườg hợp nhất định. Và những chi phí khác chi cho người lao động nhưng mức chi phí này cũng được giới hạn không quá 1 tháng lương bình quân của người lao động.
– Theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 9 Nghị định 218/2013/NĐ-CP về một số khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế, trừ một số trường hợp đặc thù theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
– Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC và khoản 4 Điều 3 Thông tư 25/2018/TT-BTC quy định về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
+ Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ Điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ Khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động hướng dẫn tại điểm 2.11 Điều này) và những Khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.
Việc xác định 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp được xác định bằng quỹ tiền lương thực hiện trong năm chia (:) 12 tháng.
Trường hợp doanh nghiệp hoạt động không đủ 12 tháng thì: Việc xác định 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế được xác định bằng quỹ tiền lương thực hiện trong năm chia (:) số tháng thực tế hoạt động trong năm.
Quỹ tiền lương thực hiện là tổng số tiền lương thực tế đã chi trả của năm quyết toán đó đến thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ quyết toán theo quy định (không bao gồm số tiền trích lập quỹ dự phòng tiền lương của năm trước chi trong năm quyết toán thuế).
Như vậy, trường hợp Công ty có chi trực tiếp bảo hiểm sức khỏe cho người thân người lao động Việt Nam thì không được coi là khoản chi có tính chất phúc lợi và không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Mời bạn xem thêm
- Tiền bồi thường bảo hiểm có chịu thuế TNDN không?
- Tiền bảo hiểm có được trừ khi tính thuế TNCN không?
- Thủ tục chấp thuận thiết lập báo hiệu hàng hải năm 2023
Khuyến nghị
Đội ngũ luật sư, luật gia cùng chuyên viên, chuyên gia tư vấn pháp lý với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, chúng tôi có cung cấp dịch vụ tư vấn luật dân sự LSX với phương châm “Đưa luật sư đến ngay tầm tay bạn” chúng tôi đảm bảo với quý khách hàng sự UY TÍN – CHẤT LƯỢNG – CHUYÊN NGHIỆP.
Thông tin liên hệ:
Trên đây là nội dung bài viết liên quan đến vấn đề “Bảo hiểm sức khỏe có được tính vào chi phí“. Hy vọng bài viết có ích cho độc giả, LSX với đội ngũ luật sư, luật gia và chuyên viên pháp lý dày dặn kinh nghiệm, chúng tôi sẽ cung cấp dịch vụ pháp lý như soạn thảo mẫu đơn tranh chấp ranh giới đất đai. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe mọi thắc mắc của quý khách hàng. Thông tin chi tiết quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số hotline: 0833102102
Câu hỏi thường gặp
Căn cứ tiết đ.2 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC sửa đổi bởi khoản 3 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC về quy định khoản thu nhập chịu thuế như sau:
“Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế
…
Thu nhập từ tiền lương, tiền công
…
đ) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả mà người nộp thuế được hưởng dưới mọi hình thức:
…
đ.2) Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm; mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoặc đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện cho người lao động
Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm (kể cả trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam) thì khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động. Bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm gồm các sản phẩm bảo hiểm như: bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí), … mà người tham gia bảo hiểm không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thoả thuận tại hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả.”
Như vậy, có hai trường hợp phát sinh khi công ty mua cho bạn bảo hiểm sức khỏe:
Nếu công ty bạn mua cho bạn bảo hiểm sức khỏe thuộc loại không bắt buộc mua, không có tích lũy về phí bảo hiểm (kể cả trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam) thì khoản tiền phí mua sản phảm bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Nếu khoản bảo hiểm sức khỏe công ty mua cho bạn có tích lũy về phí bảo hiểm thì khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm này tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì thu nhập chịu thuế là doanh thu đã trừ đi chi phí kinh doanh hợp lý. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ khi doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận thì mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp sử dụng thuế suất đồng nhất, mức thuế suất khác nhau có thể áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số lại thu nhập khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu chính thuế của mỗi nước.
Hiện nay chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp không có định nghĩa cụ thể chỉ có quy định về điều kiện được tính là chi phí hợp lý khi tính thuế. Chi phí hợp lý hay chi phí được trừ được sử dụng rất phổ biến trong các doanh nghiệp, nhất là bộ phận kế toán nhưng pháp luật nói chung và pháp luật về thuế nói riêng không có định nghĩa thế nào là chi phí hợp lý
Chi phí mua bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên sẽ được trừ khi tính thuế TNDN khi đáp ứng các điều kiện sau:
– Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp
– Phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau:“Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.”
– DN phải tham gia các khoản bảo hiểm bắt buộc (BHXH, BHYT, BHTN) trước khi mua các loại bảo hiểm khác.
– Chi phí mua bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm tự nguyện khác: Thì không được vượt quá 1 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế.