Vợ chồng được lập di chúc chung hay không?

Tìm hiểu, kết hôn, chung sống và cùng định đoạt tài sản là một niềm hạnh phúc. Nhiều cặp vợ chồng đã lựa chọn cách là lập di chúc chung. Điều này có được pháp luật cho phép hay không? Hãy cùng tìm hiểu!

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật dân sự 2005
  • Bộ luật dân sự 2015

Nội dung tư vấn

1. Di chúc chung là gì?

Di chúc chung được hiểu “nôm na” là một văn bản ghi nhận ý chí chung của vợ chồng về thống nhất tinh thần để lại tài sản cho một người nào đó. Di chúc chung bắt đầu được quy định từ Bộ luật dân sự 2005, cụ thể:

Điều 663. Di chúc chung của vợ, chồng

Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.

Điều 664. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng

1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.

2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.

Về cơ bản, theo tinh thần của Bộ luật dân sự 2005 thì Di chúc chung là:

  • Vợ chồng có quyền để cùng tạo lập một di chúc định đoạt khối lượng tài sản chung;
  • Vợ chồng có thể cùng thay đổi di chúc. Nếu một người đã mất thì người còn lại chỉ được sửa đổi trên phần tài sản của mình.

Vậy tài sản chung vợ chồng là gì?

Tài sản chung vợ chồng được định nghĩa tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cụ thể bao gồm như sau:

  • Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh
  • Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân
  • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung
  • Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Tất nhiên thì vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc định đoạt khối tài sản này.

2. Vợ chồng có được lập di chúc chung không?

Câu trả lời là có – Vợ chồng có quyền lập chung một bản di chúc. Tuy nhiên có một số lưu ý như sau:

Khái niệm cụ thể của Di chúc chung được quy định trong Bộ luật dân sự 2005, tuy nhiên quy định này là hết hiệu lực và không còn được đề cập trong Bộ luật dân sự 2015. Nguyên nhân của sự thiếu sót này có lẽ phát sinh từ sự bất tiện của di chúc chung bởi lẽ khi muốn sửa đổi bổ sung hay hủy bỏ di chúc chung này thì đều cần ý kiến của người còn lại, thêm nữa nếu một người mất thì người còn lại cũng chỉ quyết trong khối lượng tài sản mà họ có quyền sở hữu – điều này là đương nhiên nên vô hình chung di chúc chung vợ chồng không có những điểm mới hay tính đột phá.

Sự không đề cập trong Bộ luật dân sự 2015 hiện hành không có nghĩa là pháp luật cấm vợ chồng lập di chúc chung. Vợ chồng hoàn toàn có quyền viết và lập bản di chúc chung miễn là có đủ điều kiện như sau:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
  • Người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội;
  • Hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Tham khảo thêm: Dịch vụ viết di chúc

Nếu có thể đưa ra một lời khuyên thì tôi khuyên rằng quý khách nên viết di chúc theo dạng cá nhân để tự mình định đoạt phần tài sản. Di chúc chung đem lại nhiều hạn chế và đôi khi phức tạp trong quá trình phân chia di sản.

Hi vọng bài viết này sẽ có X

 

 

 

Từ khóa: ,