Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân theo quy đinh chi tiết?

bởi Thanh Tri
Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là một sự kiện mà người dân được tham gia đóng góp ý kiến của mình thông qua lá phiếu trực tiếp vào những vấn đề quan trọng của đất nước và trong đa số trường hợp Chính phủ phải thực hiện theo ý chí của nhân dân . Vậy Nhà nước sẽ tổ chức thực hiện trưng cầu ý dân khi nào? Trưng cầu ý dân được pháp luật quy định ra làm sao?

Tại bài viết sau đây, Luật sư X xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết “ Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân?”.

Căn cứ pháp lý

Trưng cầu ý dân là gì?

Trưng cầu ý dân hay bỏ phiếu toàn dân là một cuộc bỏ phiếu trực tiếp, trong đó toàn bộ các cử tri được yêu cầu chấp nhận hay phủ quyết một đề xuất đặc biệt. Đó có thể là sự thông qua một hiến pháp mới, một sự sửa đổi hiến pháp, một bộ luật, một sự bãi miễn một quan chức đã được bầu hay đơn giản chỉ là một chính sách riêng của chính phủ. trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân là một hình thức dân chủ trực tiếp. Ngày nay, tại Việt Nam, trong dự thảo luật hay các vấn đề lớn của đất nước, thường gọi là lấy ý kiến nhân dân.

Trưng cầu ý dân là việc lấy ý kiến của nhân dân về vấn đề nào đó có liên quan đến lợi ích của nhân dân và lợi ích của đất nước.

Trưng cầu ý dân được xem là một hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp điển hình, người dân thể hiện ý chí của mình thông qua lá phiếu một cách trực tiếp và trong đa số trường hợp nhà nước có nghĩa vụ phải thực hiện theo ý chí của nhân dân.

Trưng cầu ý dân có thể được tổ chức ở cấp độ toàn quốc nhưng cũng có thể từ tổ chức ở một khu vực vùng miền bằng trưng cầu ý dân, được nhiều nước châu âu như Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Canada, Mỹ, Úc, tổ chức ở các cấp độ khác nhau nhưng cũng có nước chưa từng tổ chức như Nhật Bản, Trung Quốc. Ở châu âu, Thụy Sĩ là quốc gia thường xuyên tổ chức trưng cầu dân Ý. 23/6 năm 2016, nước Anh tổ chức cuộc trưng cầu dân Ý về việc ở lại hay ra khỏi liên minh châu âu, kết quả có một 17.410.742 người chọn rời khỏi liên minh Châu Âu, chiếm 51,9 % số cử tri đi bỏ phiếu và 16.141.241 người chọn tiếp tục ở lại, chiếm 48,1% số cử tri đi bỏ phiếu.

Quy định của pháp luật về Trưng cầu ý dân

Nguyên tắc trưng cầu ý dân:

Ở Việt nam, nhà nước Việt nam là của dân do dân và vì dân, chính vì thế mà nhân dân có quyền làm chủ và đóng góp nguyện vọng và ý kiến đối với các hoạt động của nhà nước và pháp luật thông qua nhiều hình thức như trưng cầu ý dân, Việc trưng cầu ý dân cần được thực hiện theo các nguyên tắc nhất định. Tại Luật trưng cầu dân ý 2015 quy định Điều 4. Nguyên tắc trưng cầu ý dân

  1. Bảo đảm để Nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội.
  2. Thực hiện nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín khi trưng cầu ý dân.
  3. Việc trưng cầu ý dân phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định.

Như vậy có thế thấy, để thống nhất và tạo nên sụ đoàn kết dân tộc trong giải quyết các vấn đề chung của đất nước và những vấn đề quan trọng của đất nước thì nhà nước ta coi trọng và thực hiện các điều kiện để nhân dân có thê thực hiện các công việc dựa trên các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín dối với các hoạt động trưng cầu dân ý để đảm bảo an toàn, trật tự và bình đẳng.

Việc trưng cầu dân ý phải được thực hiện đầy đủ theo các trình tự và thử tục được quy định để đảm bảo kết quả của việc trưng cầu dân ý chính xác và phải được sự đồng thuận của nhân dân. Trong trường hợp trưng cầu dân ý như việc thự hiện bầu ra người đại diện để bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ cho mình như bầu cử các cơ quan có thẩm quyền, đây là quyền lợi của nhân dân về sự tín nhiệm đối với những cá nhân có đủ nhân phẩm, năng lực và tư cách đại diện cho nhân dân quyết định các công việc chung của đất nước

Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân?
Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân?

Quy định về Các vấn đề trưng cầu ý dân:

Quốc hội xem xét, quyết định trưng cầu ý dân về các vấn đề sau đây:

  • Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp, đối với việc áp dụng quy dịnh của Hiến pháp thì càn có ý kiến đóng góp của nhân dân vì hiến pháp là đạo luật gốc quy định các vấn đề quan trọng như quyền của con người, các vấn đề về quy định của pháp luật trong các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau nên rất cần tới việc trưng cầu ý dân để hoàn thiện các quy định và sự nhất chí đồng thuận của nhân dân cả nước.
    Về mặt khách thể của quan hệ này, được xác định nằm ở hai nội dung đó là Một là lợi ích của cả Nhà nước và công dân đạt được trong việc đảm bảo thực thi chủ quyền nhân dân, tôn trọng và phát huy dân chủ từ đó tạo nên sự đồng thuận, nhất trí cao trong toàn xã hội, tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó hơn giữa chính quyền với nhân dân; Hai là hành vi của con người và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trách nhiệm trong quá trình từ lúc bắt đầu xem xét, quyết định việc tổ chức trưng cầu ý dân, tiến hành bỏ phiếu cho đến khi công bố kết quả cuối cùng và Từ những phân tích trên, có thể khẳng định chế định trưng cầu ý dân là một trong những chế định pháp luật thuộc hệ thống của ngành Luật Hiến pháp.
  • Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia
    Việc xác định chế định trưng cầu ý dân là một trong những chế định thuộc hệ thống của ngành Luật Hiến pháp, quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong toàn bộ tiến trình trưng cầu là quan hệ pháp luật Hiến pháp như phân tích nêu trên đã góp phần minh chứng đặc điểm thứ hai: chế định trưng cầu ý dân là cơ sở pháp lý quan trọng khẳng định và đảm bảo thực hiện nguyên tắc và mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân
  • Các Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước đối với các Điều kiện kinh tế của quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng trong việc soạn thảo và xây dựng các quy phạm pháp luật của chế định trưng cầu ý dân. Quá trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp, thẩm định, đánh giá tác động, tổ chức hội thảo, phát phiếu thăm dò, lấy số liệu, tổng hợp nhận xét, tham vấn chuyên gia, dịch thuật tài liệu đến hoàn thiện dự thảo, thông qua dự án luật tất cả đòi hỏi nguồn kinh phí đầu tư rất lớn, ổn định và lâu dài và cần thiết phải lấy ý kiến về trưng cầu ý dân và các Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước theo quy định cần trưng cầu ý dân theo quy định của pháp luật.

Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân?

– Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trưng cầu ý dân 2015 thì trưng cầu ý dân được tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

– Đồng thời, theo Điều 8 Luật Trưng cầu ý dân 2015  quy định về ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân là ngày chủ nhật, do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định và được công bố chậm nhất là 60 ngày trước ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân

Như vậy, việc trưng cầu ý dân sẽ được tổ chức vào ngày chủ nhật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định nhằm tổ chức lấy biểu quyết về những vấn đề quan trọng của đất nước.

Các trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân

  • Không tổ chức lại việc trưng cầu ý dân về nội dung đã được trưng cầu ý dân trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày kết quả trưng cầu ý dân được công bố;
  • Không tổ chức trưng cầu ý dân trong thời gian ban bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước.

Hiệu lực, phạm vi tổ chức, đề nghị và bỏ phiếu

  • Hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân: Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân và có hiệu lực kể từ ngày công bố.
  • Phạm vi tổ chức trưng cầu ý dân: Trưng cầu ý dân được thực hiện trong phạm vi cả nước.
  • Đề nghị trưng cầu ý dân: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc trưng cầu ý dân.
  • Người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân: Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân có quyền bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trừ người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Mời bạn xem thêm:

Thông tin liên hệ

Trên đây là những vấn đề liên quan đến “Khi nào thực hiện trưng cầu ý dân?Luật sư X tự hào sẽ là đơn vị hàng đầu hỗ trợ mọi vấn đề cho khách hàng liên quan đến tư vấn pháp lý, thủ tục giấy tờ liên quan đến thủ tục đăng ký logo, giải thể doanh nghiệp, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam, tra mã số thuế cá nhân, dịch vụ hợp thức hóa lãnh sự, thủ tục vay vốn ngân hàng cho doanh nghiệp, mã số thuế cá nhân hay muốn sử dụng dịch vụ tạm ngừng kinh doanh, dịch vụ công chứng tại nhà, kết hôn với người Nhật Bản… Nếu quý khách hàng còn phân vân, hãy đặt câu hỏi cho Luật sư X thông qua số hotline 0833.102.102. Chúng tôi sẽ tiếp nhận thông tin và phản hồi nhanh chóng. Hoặc bạn có thể tham khảo thêm các kênh sau:

Câu hỏi thường gặp

Những người nào không được ghi tên vào danh sách cử tri?

Căn cứ theo Điều 30 Luật Bầu cử, những trường hợp sau đây không được ghi tên vào danh sách cử tri, gồm:
– Người đang bị tước quyền bầu cử;
– Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án;
– Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;

Các hành vi nào bị nghiêm cấm khi trưng cầu ý dân?

Điều 13 Luật Trưng cầu ý dân quy định Các hành vi bị nghiêm cấm:
1. Tuyên truyền, đưa thông tin sai lệch về nội dung, ý nghĩa của việc trưng cầu ý dân.
2. Dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép, cản trở làm cho cử tri không thực hiện hoặc thực hiện việc bỏ phiếu trưng cầu ý dân trái với mong muốn của mình.
3. Giả mạo giấy tờ, gian lận hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân.
4. Lợi dụng việc trưng cầu ý dân để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân.
5. Vi phạm quy định về bỏ phiếu, kiểm phiếu trưng cầu ý dân, quy định khác của Luật này.

Khi nào được coi là phiếu trưng cầu ý dân không hợp lệ?

Những phiếu trưng cầu ý dân sau đây là phiếu không hợp lệ:
a) Phiếu không theo mẫu quy định do Tổ trưng cầu ý dân phát ra;
b) Phiếu không có dấu của Tổ trưng cầu ý dân;
c) Phiếu đánh dấu nhiều hơn một phương án được chọn theo quy định;
d) Phiếu bỏ trống tất cả các phương án;
đ) Phiếu có viết thêm nội dung khác.

5/5 - (1 bình chọn)

Có thể bạn quan tâm