Tại sao thường sử dụng ngón tay trỏ để điểm chỉ?

Để ý một chút thì sẽ thấy rằng, trong nhiều giao dịch cơ quan thẩm quyền sẽ yêu cầu công dân sử dụng ngón tay trỏ để điểm chỉ. Tại sao không phải ngón tay cái, ngón út hay những ngón tay khác?

Căn cứ pháp lý:

  • Luật Công chứng 2014;
  • Bộ luật dân sự 2015.

Nội dung tư vấn

1. Điểm chỉ có bắt buộc không?

Điểm chỉ hay lăn tay là thuật ngữ chỉ hành động lăn ngón tay vào mực và dính vào văn bản giấy tờ nhằm xác nhận giao dịch.

Phải khẳng định rằng việc điểm chỉ là không bắt buộc trong giao dịch dân sự, công chứng. Cụ thể thì tại Điều 48 Luật công chứng 2014 có quy định như sau:

Điều 48. Ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng
1. Người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch phải ký vào hợp đồng, giao dịch trước mặt công chứng viên.
Trong trường hợp người có thẩm quyền giao kết hợp đồng của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác đã đăng ký chữ ký mẫu tại tổ chức hành nghề công chứng thì người đó có thể ký trước vào hợp đồng; công chứng viên phải đối chiếu chữ ký của họ trong hợp đồng với chữ ký mẫu trước khi thực hiện việc công chứng.
2. Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký. Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào.
3. Việc điểm chỉ cũng có thể thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợp sau đây:
a) Công chứng di chúc;
b) Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
c) Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.

Điểm chỉ trong công chứng được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký. Ngoài ra đối với hợp đồng dân sự không công chứng thì cũng có đa dạng các hình thức, chỉ cần giao dịch được thực hiện trên ý chí của hai bên là đã được pháp luật thừa nhận. Vì vậy có những loại hợp đồng bằng miệng, không nhất thiết tồn tại dưới dạng văn bản nhưng vấn được thừa nhận.

Việc có hay không lăn tay sẽ giúp hợp đồng tăng giá trị về tính xác thực, dễ giải quyết hơn khi có tranh chấp.

Tham khảo bài viết: Các hình thức hợp đồng

2. Tại sao thường sử dụng ngón tay trỏ để điểm chỉ

Khi chúng ta làm căn cước công dân, chứng minh nhân dân, ngón tay trỏ là ngón tay chính được thể hiện trên mặt sau những giấy tờ này (gồm ngón trỏ tay trái và ngón trỏ tay phải). Khi thực hiện sang tên chuyển nhượng đất đai thì công chứng viên cũng yêu cầu người dân sử dụng ngón trỏ xác nhận giao dịch. Tại sao không phải là những ngón tay khác? Theo tôi có những lý do sau đây:

Sử dụng ngón tay trỏ để điểm chỉ là bắt buộc

Căn cứ những nội dung được quy định tại Luật công chứng 2014 thì có thể thấy rằng, trong trường hợp sử dụng phương thức là điểm chỉ thì bắt buộc phải dùng ngón tay trỏ để lăn tay.

2. Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký. Khi điểm chỉ, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch sử dụng ngón trỏ phải; nếu không điểm chỉ được bằng ngón trỏ phải thì điểm chỉ bằng ngón trỏ trái; trường hợp không thể điểm chỉ bằng hai ngón trỏ đó thì điểm chỉ bằng ngón khác và phải ghi rõ việc điểm chỉ đó bằng ngón nào, của bàn tay nào.

Thêm nữa, theo quy định tại Nghị định 170/2007/NĐ-CP về thủ tục cấp chứng minh nhân dân, Luật căn cước công dân 2014 thì việc lăn tay ngón trỏ cũng bắt buộc:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau:

Điều 2. Chứng minh nhân dân hình chữ nhật dài 85,6 mm, rộng 53,98 mm, hai mặt Chứng minh nhân dân in hoa văn màu xanh trắng nhạt. Có giá trị sử dụng 15 năm kể từ ngày cấp.

Mặt trước: Bên trái, từ trên xuống: hình Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đường kính 14 mm; ảnh của người được cấp Chứng minh nhân dân cỡ 20 x 30 mm; có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chữ “Chứng minh nhân dân” (màu đỏ); số; họ và tên khai sinh; họ và tên gọi khác; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quê quán; nơi thường trú.

Mặt sau: Trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: ô trên, vân tay ngón trỏ trái; ô dưới, vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống: đặc điểm nhân dạng; họ và tên cha; họ và tên mẹ; ngày, tháng, năm cấp Chứng minh nhân dân; chức danh người cấp; ký tên và đóng dấu.”

Và rất nhiều giao dịch khác, việc xác lập thông qua điểm chỉ cũng được sử dụng bằng ngón trỏ. Rõ ràng thì quy định này phải có những căn cứ nhất định về mặt khoa học và thói quen để có thể quyết định áp dụng.

Tham khảo bài viết: Điểm chỉ là gì?

Sử dụng ngón trỏ là thói quen của nhiều người

Suy cho cùng, để định danh một cá nhân nhằm xác lập giao dịch thì cần phải ấn định rõ những đặc điểm của cá nhân đó cũng như những dấu vết họ để lại trong quá trình hoạt động. Đặt trong trường hợp là tội phạm, tôi tin rằng không một tội phạm nào phạm tội mà không dùng ngón trỏ của mình. Sử dụng ngón trỏ là bản năng, là thói quen của phần lớn mọi người: Ví dụ như cầm con dao, cầm cái thớt, bấm thang máy, gõ mổ cò bàn phím …có sự tác động rất lớn bằng ngón trỏ.

Theo nghiên cứu khoa học thì ngón trỏ cũng là ngón khéo léo, nhạy bén nhất mặc dù không phải là ngón đầu tiên, ngón dài nhất. Chính vì sự quan trọng của ngón này nên mọi người cũng sẽ có ý thức về trách nhiệm bảo vệ tránh tổn thương không đáng có đối với ngón tay này. Ngón trỏ cũng được coi như đại diện của một người khi tranh luận bằng cách chỉ trỏ vào mặt đối tượng khác.

Hi vọng, bài viết sẽ có X

 

 

 

Từ khóa: , , ,