Cặp đôi đồng tính có được quyền nhận con nuôi hay không?

Pháp luật không công nhận hôn nhân đồng tính tuy nhiên cũng không có một quy định nào cấm hôn nhân đồng tính. Nghĩa là, các cặp đôi đồng tính vẫn có thể chung sống với nhau. Và tất nhiên, những cặp đôi này sẽ không thể có con. Vậy, những cặp đôi đặc biệt này có thể nhận con nuôi hay không? Nếu được thì thủ tục như thế nào? Tham khảo bài viết dưới đây của Luật sư X

Căn cứ:

Nội dung tư vấn:

1. Pháp luật chưa công nhận hôn nhân đồng tính?

Hôn nhân là mối quan hệ vợ chồng được thiết lập khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hai bên xác lập mối quan hệ vợ chồng thi phải  thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên và sẽ được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể kết hôn. Nam nữ phải đủ điều kiên theo quy định của pháp luật mới được phép đăng ký kết hôn. Căn cứ vào  Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

  •  Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên: Đây là độ tuổi mà theo đó thì sẽ các bên đủ nhận thức về hành vicuar mình cũng như có đủ khả năng tài chính để xây dựng một mối quan hệ hôn nhân. 

  •  Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định: Tự nguyện tiến tới hôn nhân là một trong những nguyên tắc nhất định trong hôn nhân do pháp luật quy định. Việc ép hôn hay những hành vi kết hôn khác không xuất phát từ sự tự nguyện thì sẽ là hành vi vi phạm pháp luật và cuộc hôn nhân sẽ không được công nhận. 

  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự: tất nhiên, để tham gia quan hệ hôn nhân thì các bên phải đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. 

  • Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm: Kết hôn giả tạo; Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Kết hôn với người đang có chồng, có vợ; Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời….

Cụ thể hóa như sau: 

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc k��t hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Cũng theo quy định này, rõ ràng, pháp luật không có quy định về công nhận một cuộc hôn nhân đồng tính. Tuy nhiên, trên thực tế thì các cuộc hôn nhân chỉ xảy ra nhưng không được pháp luật bảo vệ quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Bởi vậy, tính rủi ro ở những cuộc hôn nhân này cũng khá cáo, vì không công nhận nên các tính pháp lý về quyền nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cấp dưỡng và tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân cũng khó để được bảo vệ. 

2. Không công nhận nhưng có được nhận con nuôi hay không? 

Như đã phân tích ở trên thì mặc dù không được pháp luật Việt Nam công nhận nhưng trên thực tế vẫn có rất nhiều cặp đôi đồng tính sinh sống với nhau nhưu vợ chồng. Và tất nhiên, nhu cầu về có những đứa con của họ vẫn tồn tại. Việc nhận con nuôi được điều chỉnh bởi Luật con nuôi 2010. Đây là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con một cách lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người con, đảm bảo cho người con được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Cụ thể hóa tại Điều 2 như sau: 

Điều 2. Mục đích nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.

Lúc này, việc nhận con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả người nhận nuôi và người được nhận nuôi, dựa trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái đạo đức, xã hội.

Cũng căn cứ tại Điều 8 có quy định như sau: 

Điều 8. Người được nhận làm con nuôi

1. Trẻ em dưới 16 tuổi.

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Theo đó thì rõ ràng một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. Như phân tích ở trên, cặp đôi đồng tính không đượ pháp luật công nhận là vợ chồng. Bởi vậy, việc cả hai đứng ra nhận nuôi con như là vợ chồng là không hợp pháp và không được công nhận. Tuy nhiên, nếu 1 trong hai người đứng ra làm thủ tục nhận nuôi thì vẫn được xem là nuôi trong trường hợp là một người độc thân.

Bên cạnh việc đáp ứng điều kiện về chủ thể thì người nhận nuôi còn phải đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010:

  • năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

  • Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

  • Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

  • Có tư cách đạo đức tốt;

  • Không thuộc các trường hợp bị cấm nhận con nuôi: Đang bị hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên; Đang chấp hành hình phạt tù; Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự người khác, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em…

Tất cả các điều trên đều là những điều kiện nhằm đảm bảo cho việc con được nhận nuôi được chăm sóc, sinh sống trong điều kiện đầy đủ và được phát triển tốt nhất. Từ môi trường sống, đến cách thức giáo dục,...

Bởi vậy, mặc dù Việt Nam chưa thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính một trong hai người vẫn có cơ hội có thể nhận con nuôi được.

Hy vọng bài viết có ích cho bạn !

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ giải quyết hành chính Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ