Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con ?

bởi Thanh Hằng
Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con

Khi cha mẹ mất đi họ thường để lại di chúc cho con cái. Nó có thể là đất đai, là của cải mà họ tích giữ trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên đối với giá trị của nhà đất, thì thường dễ phát sinh tranh chấp của những người hưởng thừa kế. Lí do có thể là do tài chính không đủ chi trả, hoặc giữa những người con tranh chấp về nội dung di chúc. Vậy Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con ? Bài viết dưới đây của Luật sư X sẽ giúp các bạn giải đáp thắc mắc.

Căn cứ pháp lý

Di chúc là gì?

Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Như vậy, di chúc chính là ý chí của người để lại di sản, được pháp luật tôn trọng. Theo quy định trên thì chỉ khi người để lại di chúc chết thì di chúc mới có hiệu lực. Đồng thời, thời điểm người có tài sản chết thì Điều 611 Bộ luật Dân sự định nghĩa đây là thời điểm mở thừa kế.

Di chúc có hiệu lực tại thời điểm nào?

Theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Trong khi đó, thời điểm mở thừa kế theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự được định nghĩa như sau:

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Từ quy định này, khi người lập di chúc để lại tài sản cho người khác chết thì đây chính là thời điểm mở thừa kế đồng nghĩa từ thời điểm này, di chúc sẽ chính thức có hiệu lực. Với trường hợp Toà án tuyên bố một người đã chết thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm xác định người đó:

– Biệt tích 05 năm từ ngày kết thúc chiến tranh.

– Bị tai nạn, thảm hoạ, thiên tai 02 năm mà không có tin tức xác thực là con sống.

– Biệt tịch liên tục 05 năm trở lên và không có tin tức là còn sống…

Lưu ý: Để di chúc có hiệu lực thì di chúc phải hợp pháp. Trong đó, điều kiện để di chúc hợp pháp là:

– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.

– Người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.

– Di chúc không có nội dung trái luật, trái đạo đức xã hội và hình thức trái luật…

Như vậy, thời điểm di chúc có hiệu lực được tính từ khi người lập di chúc chết.

Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con
Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con

Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con ?

Theo quy định trên thì chỉ khi người lập di chúc chết, di chúc mới phát sinh hiệu lực. Do đó dù đất đã được chia trong di chúc thì người lập chưa chết, đất đó vẫn chưa được chia và vẫn thuộc sở hữu của người lập. Theo đó di chúc dù đã chia mảnh đất cho các con nhưng do chưa có hiệu lực nên cha mẹ có toàn quyền đối với quyền sử dụng đất mà họ đang sở hữu; trong đó bao gồm cả quyền chuyển nhượng (bán).

Tuy nhiên, không phải đối tượng nào được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất đều có thể thực hiện các quyền mua bán, chuyển nhượng.

Theo điều 188 Luật Đất đai 2013, để chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

– Đất không có tranh chấp;

– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

– Trong thời hạn sử dụng đất.

Theo đó bạn có quyền bán đất đã cho di chúc nếu đáp ứng các điều kiện trên.

Lập di chúc để lại đất nhưng không cho bán, có được không?

rong di chúc nếu người để lại di sản thừa kế nêu rõ nhà, đất được sử dụng vào việc thờ cúng thì nhà, đất đó không được chia thừa kế, đồng thời người được chỉ định quản lý nhà đất đó không được chuyển nhượng, tặng cho,…

Nội dung này được nêu rõ tại khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.”.

Bên cạnh đó, trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng (theo khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015).

Nghĩa là, toàn bộ di sản người chết để lại không đủ “trả nợ” thì nhà, đất phải được sử dụng vào để trả nợ cho dù nội dung di chúc ghi rõ là để sử dụng vào việc thờ cúng.

Thời điểm đăng ký đất đai khi thừa kế có hiệu lực

Để việc thừa kế hoàn tất cần phải thực hiện các thủ tục khác nhau như: Khai nhận di sản (nếu có), phân chia di sản, đăng ký biến động. Đồng thời pháp luật đất đai quy định rõ việc thừa kế có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Nội dung này được quy định rõ tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 như sau:

“3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”.

Khi sang tên xong thì người thừa kế là người sử dụng đất và được Nhà nước thừa nhận trong chứng thư pháp lý là Sổ đỏ, Sổ hồng. Một khi đã là người sử dụng đất thì sẽ có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai như chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế, thế chấp,…

Tóm lại, trong di chúc không có quy định để di sản là nhà, đất sử dụng vào việc thờ cúng thì người thừa kế có quyền chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp và các quyền khác theo quy định pháp luật đất đai.

Mặt khác, cho dù người để lại di sản có mong muốn nhà đất được sử dụng vào thờ cúng và nói mong muốn đó cho tất cả các thành viên trong gia đình thì cũng không phải là căn cứ để ngăn cản, tước bỏ quyền của người thừa kế khi những người này trở thành người sử dụng đất (sang tên xong) nếu như không thể hiện trong di chúc.

Thông tin liên hệ

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của LSX về vấn đề “Có được bán nhà đất khi đã lập di chúc cho con ?”.

Để biết thêm thông tin chi tiết và nhận thêm sự tư vấn, giúp đỡ khi có nhu cầu về các vấn đề liên quan đến xác nhận tình trạng hôn nhân, mã số thuế cá nhân, tra cứu thông tin quy hoạch, xác nhận tình trạng hôn nhân, hồ sơ xin tạm ngừng kinh doanh của chúng tôi, … Quý khách vui lòng liên hệ LSX để được hỗ trợ, giải đáp.

Để được tư vấn cũng như trả lời những thắc mắc của khách hàng trong và ngoài nước thông qua web Luatsux.vn, lsx.vn, web nước ngoài Lsxlawfirm,…

Liên hệ hotline: 0833.102.102.

Có thể bạn quan tâm

Câu hỏi thường gặp

Không có tên trong di chúc thì có được hưởng thừa kế?

Theo Điều 644 BLDS 2015; những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế

Thời hiệu yêu cầu chia di sản được quy định cụ thể tại Điều 623 Bộ luật Dân sự như sau:
– Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản: 30 năm; động sản: 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
– Thời hiệu để yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình, bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
– Thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Điều kiện về hình thức của di chúc là gì ?

Đây được coi là một điều kiện trong trường hợp pháp luật quy định. Theo đó, di chúc phải được lập bằng văn bản. Nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì mới lập di chúc miệng.
Như vậy, chỉ khi người để lại di chúc chết; và di chúc hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế thì di chúc mới có hiệu lực.

5/5 - (1 bình chọn)

Có thể bạn quan tâm