Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là gì? So sánh hợp đồng lao động không xác định thời hạn và có thời hạn.

Khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động cần hiểu rõ về bản chất của loại hình hợp động sẽ ký kết. Có như vậy, người lao động mới có thể bảo vệ tối đa quyền lợi của bản thân khi làm việc. Bài viết này cung cấp một số kiến thức nhất định về loại hình hợp đồng phổ biến nhất – hợp động lao động không xác định thời hạn.

Căn cứ:

Nội dung tư vấn

1. Khái niệm về hợp đồng lao động không xác định thời hạn

Điểm a khoản 1 Điều 22 BLLĐ 2012 định nghĩa như sau: “hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng

Như vậy, hợp đồng lao động không xác định thời hạn là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động, tuy nhiên, các bên không xác định thời hạn làm việc hoặc thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Cần lưu ý thuật ngữ “không xác định thời hạn” và “vô thời hạn”. hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng có thời điểm chấm dứt trong tương lai nhưng chưa thể xác định cụ thể sẽ chấm dứt vào ngày tháng năm nào. Còn nếu sử dụng cụm từ “vô thời hạn” thì hợp đồng lao động đó sẽ không có thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

2. Cách thức hình thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn

Có 2 cách thức hình thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn được quy định tại Điều 22 BLLĐ 2012 trong luật như sau:

Cách thức thứ nhất, hợp đồng lao động không xác định thời hạn có thể được hình thành bởi sự thoả thuận của người lao động và người sử dụng lao động. Các bên trong HĐ sẽ thoả thuận về loại hợp đồng được sử dụng đối với công việc cần lao động. Pháp luật khuyến khích những gì có lợi cho người lao động hơn luật quy định, nghĩa là sau thời gian thử việc hoặc không cần thử việc, người sử dụng lao động có thể ký ngay hợp đồng không xác định thời hạn.

Cách thức thứ hai, hợp đồng lao động xác định thời hạn chuyển hoá thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Thông thường, việc chuyển hoá hợp đồng diễn ra đối với người lao động đã ký 2 hợp đồng lao động có xác định thời hạn, đến khi hết hạn hợp đồng thứ hai, người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì người sử dụng lao động bắt buộc phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Tuy nhiên, nếu người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn nhưng hết hạn và vẫn tiếp tục làm việc quá 30 ngày thì hợp đồng này sẽ tự động chuyển hoá thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn (trong trường hợp này người lao động chỉ cần ký 1 hợp đồng lao động xác định thời hạn).

3. So sánh HĐLĐ không xác định thời hạn và có thời hạn

Giống:

  • Về bản chất, hợp đồng lao động không xác định thời hạn và có thời hạn đều là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
  • Về nguyên tắc, cả hai loại hợp đồng trên đều phải được giao kết dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Các bên trong hợp đồng được tự do giao kết nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
  • Đối với trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì dù là hợp đồng lao động xác định thời hạn hay không đều áp dụng quy định tại Điều 42 BLLĐ 2012 về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Khác:

  • Hợp đồng lao động không xác định thời hạn không có thời gian kết thúc hợp đồng, hợp đồng thường chỉ kết thúc khi bên người lao động hoặc người sử dụng lao động tuyên bố chấm dứt hợp đồng. Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, các bên trong hợp đồng sẽ xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
  • Vì pháp luật khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên hợp đồng lao động xác định thời hạn bị giới hạn số lần ký kết.
  • Căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn dựa trên các căn cứ nêu tại khoản 1 Điều 37 BLLĐ 2012, còn đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn là khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012.
  • Thời gian thông báo việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của hợp đồng lao động xác định thời hạn là 30 ngày, trong khi hợp đồng lao động không xác định thời hạn là 45 ngày.

Hi vọng bài viêt có ích cho độc giả!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay