Khi nào thì được tuyên bố một người đã chết

Đôi khi trong cuộc sống có những điều rủi ro mà không một ai muốn nó xảy ra đó là phải mất đi một ai đó. Tuy nhiên, bởi vì mỗi cá nhân sống trên xã hội đều có quyền và nghĩa vụ cũng như cũng ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ đến người khác. Do vậy khi những người có quyền lợi liên quan không thể xác định được một người đang còn sống và khi có đủ điều kiện thì có thể yêu cầu tòa án tuyên bố một người đã chết.

CƠ SỞ PHÁP LÝ:

NỘI DUNG:

1. Thẩm quyền tuyên bố một người đã chết

Việc tuyên bố một người đã chết hay một người mất tích không phải là việc mà người thân hay bất kỳ ai có quyền công khai hay thông báo người đó đã chết. Theo quy định  tại Điều 71 BLDS 2015 quy định: "Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết" 

Và quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.”

 

2. Điều kiện tuyên bố một người đã chết

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 71 bộ luật dân sự 2015: Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

 

Như vậy căn cứ vào Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 có bốn trường hợp có thể yêu cầu toàn án tuyên bố đã chết:

Thứ nhất:  Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

Đây là trường hợp khi Tòa án đã tuyên bố mất tích trước, và thời hạn tuyên bố mất tích là 2 năm. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng. Như vậy nếu để tuyên bố chết thì phải mất 5 năm ( bao gồm 2 năm tuyên bố mất tích và 3 năm kể từ khi tuyên bố mất tích nhưng chưa có thông tin )

Trường hợp hai, Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

Tức là kể từ sau chiến tranh mà biệt tích suốt 5 năm thì Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố chết mà không cần tuyên bố mất tích trước.

Trường hợp thứ ba, Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống. 

Cuối cùng : Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống ( cũng không cần tuyên bố mất  tích trước khi tuyên bố chết)

 

3. Hậu quả của việc tuyên bố một người đã chết

Căn cứ vào Điều 72 Bộ luật dân sự 2015 quy định thì khi tuyên bố một cá nhân dẫ chết hậu quả pháp lý được thể hiện ở ba khía cạnh sau: 

Quan hệ nhân thân: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân của cá nhân bị tuyên bố chết chấm dứt. Các quan hệ nhân thân khác cũng chấm dứt tương tự. Nếu vợ hoặc chồng của cá nhân bị tuyên bố chết kết hôn với người khác thì việc kiết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.

Tư cách chủ thể: Trong trường hợp quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu lực thì  thì tư cách chủ thể của cá nhân đó chấm dứt hoàn toàn. Cá nhân đó không thể tham gia vào bất cứ quan hệ dân sự nào với tư cách là một chủ thể của quan hệ đó, từ quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân, các giao dịch dân sự.

Quan hệ tài sản: Cũng được và  tuyên bố như đối với người đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế

4. Khi cá nhân đã tuyên bố chết trở về

Bộ luật Dân sự đã dự định trước cách giải quyết các vấn đề khi người bị tuyên bố chết trở về.Cụ thể là Điều 73 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết như sau:

1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết.
2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.
Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình.
5. Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Như vậy khi cá nhân tuyên bố chết trở về thì tư cách chủ thể được khôi phục, quan hệ tài sản cũng được khôi phục nhưng chỉ là những tài sản còn lại ( nếu đã chia thừa kết) phải trả lại cho cá nhân đó, quan hệ hôn nhân cũng có thể khôi phục được khi mà bên kia chưa tham gia và quan hệ hôn nhân hợp pháp khác.

Hy vọng bài viết hữu ích cho bạn đọc!

 

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ