Sư có được đứng tên sổ đỏ không?

Những ngày gần đây, dư luận đang xôn xao về vụ việc sư trụ trì chùa Nga Hoàng là Thích Thanh Toàn có những hành vi vi phạm pháp giới nghiêm trọng. Và trước những chỉ trích mạnh mẽ từ dư luận và giáo hội, sư Thích Thanh Toàn đã gửi nguyện vọng được xuất gia hoàn tục vì “cảm thấy không xứng đáng”. Tuy nhiên mọi chuyện sẽ chẳng có gì và có thể tạm dừng lại ở đây, nhưng điều đáng nói là trong nguyện vọng được hoàn tục sư Thích Thanh Toàn còn yêu cầu được giữ lại tài sản riêng, bao gồm cả đất đai. Cũng chính vị này cũng nói rằng số tài sản đó có thể định giá lên tới 200-300 tỷ đồng. Chính điều này đã làm dư luận thêm bất bình với câu hỏi vì sao mà như sư lại có số tài sản lớn như vậy? Nếu tài sản tăng ni, phật tử cúng dường cho chùa thì có phải tài sản riêng của nhà sư hay không? Để lý giải những vấn đề này thông qua lăng kính pháp luật, xin quý độc giả hãy theo dõi bài viết dưới đây của Luật sư X

Căn cứ:

  • Bộ luật dân sự 2015
  • Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016
  • Nội quy ban tăng sự T.Ư khóa VIII (2017-2022) của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam 

Nội dung tư vấn

1. Pháp luật đối với người tu hành?

Việt Nam là một quốc gia có các tôn giáo và văn hóa rất đa dạng, phong phú. Điều đó cũng phần nào được lý giải bởi nhà nước ta có chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi công dân. Tuy nhiên, đây lại là một vấn đề nhạy cảm có liên quan tới tình hình an ninh, chính trị, xã hội nên để điều chỉnh và quản lý các hoạt động liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo thì nhà nước ta đã ban hành Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016. Trong đó quy định cụ thể những vấn đề liên quan tới quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Nói về tín ngưỡng thì các tổ chức tôn giáo cũng như các nhà tu hành, các chức sắc, chức việc là một trong những đối tượng quan trọng để phổ biến giáo lý và duy trì hoạt động tín ngưỡng. Trong đó, tại khoản 7, 8, 9 Điều 2 Luật tín ngưỡng tôn giáo 2016 quy định như sau:

7. Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo.

8. Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức.

9. Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức.

Như vậy, những nhà tu hành, chức sắc, chức việc của các tổ chức tôn giáo ngoài tư cách là công dân và có những quyền và nghĩa vụ cơ bản của một công dân thì họ còn có những bổn phận và trách nhiệm với giáo hội, tổ chức tôn giáo của mình tôn sùng. Họ phải sống và tuyên theo những chuẩn mực mà giáo lý và giáo luật của tổ chức tôn giáo mình đề ra. 

2. Nhà sư trụ trì có được phép có tài sản riêng?

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam đó là về quyền tài sản của công dân. Cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Bộ Luật dân sự 2015 quy định rằng:

“Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.”

Như vậy, các nhà sư vừa có tư cách là nhà tu hành nhưng đồng thời cũng có tư cách của một công dân. Do vậy, các nhà sư cũng được hưởng quyền tài sản một cách toàn vẹn mà không phải chịu bất cứ sự phân biệt đối xử nào. Qua đó khẳng định, pháp luật Việt Nam không hề có bất cứ sự phân biệt nào đối với tài sản riêng của những nhà tu hành. 

Trong giáo lý Phật giáo nói rằng tài sản đối với người tu hành gồm 2 loại tài sản chính đó là tài sản thuộc cơ sở tôn giáo và tài sản thuộc sở hữu cá nhân. Bởi lẽ trong hoạt động tôn giáo, các cơ sở tôn giáo được phép tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài nước theo quy định của pháp luật. Và đây cũng là một nguồn tài chính chủ yếu để các cơ sở tôn giáo hoạt động. Những khoản quyên góp, được hiến tặng này được coi là những tài sản thuộc sở hữu của cơ sở tôn giáo và các nhà tu hành được phép hưởng dụng. Cụ thể tại Điều 28 và Điều 30 Nội quy ban tăng sự T.Ư khóa VIII có nêu rằng:

Điều 28. Sử dụng tài sản Tự viện

1) Trụ trì, hoặc Ban Hộ tự (Tự viện chưa có Trụ trì) được quyền sử dụng tài sản gắn liền với Tự viện vào các hoạt động Phật sự, sinh hoạt, tu học của Tăng Ni; phục vụ lợi ích chung của Giáo hội và cộng đồng xã hội.

2) Không được sử dụng tài sản Tự viện vào việc lợi ích cá nhân.

Điều 30. Quyền hưởng dụng tài sản Tự viện của Trụ trì

1) Tiếp nhận tài sản theo hiện trạng và thực hiện đăng ký theo quy định của Giáo hội và pháp luật Nhà nước.

2) Khai thác tài sản Tự viện phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của tài sản.

3) Giữ gìn, bảo quản tài sản Tự viện.

4) Trùng tu, tôn tạo, sửa chữa tài sản Tự viện theo định kỳ để bảo đảm cho việc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục các hậu quả xấu đối với tài sản Tự viện do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản tài sản.

5) Hoàn trả tài sản Tự viện cho chủ sở hữu là Giáo hội, khi bị Giáo hội truất quyền Trụ trì, hoặc giải tán Ban Hộ tự và các quy định của Hiến chương Giáo hội và pháp luật Nhà nước.

Với vai trò là những người đại diện cho các cơ sở tôn giáo, những nhà sư trụ trì như thầy Thích Thanh Toàn được giáo hội cho phép sử dụng tài sản của Tự viện và được quyền tiếp nhận đồng thời khai thác, giữ gìn, bảo quản những tài sản đó. Đồng thời trong một số trường hợp sư trụ trì còn có thể đứng tên thay cho Tự viện đối với các loại tài sản. Ví dụ như trường hợp các tăng ni, phật tử có hiến tặng hoặc giáo hội có phân bổ cho các nhà sư, chức sắc những tài sản như xe cộ, tranh tượng,… trong suốt thời gian tu hành thì những tài sản này là tài sản thuộc giao hội. Cụ thể tại khoản 3 Điều 29 Nội quy ban tăng sự T.Ư khóa VIII quy định:

“Điều 29. Định đoạt tài sản Tự viện

….

3) Các tài sản Tự viện do cá nhân Trụ trì đứng tên theo giấy khai sinh sau khi được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì, những tài sản đó thuộc tài sản của Tự viện.”

Như vậy, dù cho là các tài sản do cá nhân trụ trì đứng tên sau khi được Giáo hội bổ nhiệm thì những tài sản đó vẫn thuộc quyền của Giáo hội và là tài sản của Tự viện. Đối với những loại tài sản thuộc cơ sở tôn giáo này, nhà sư trong trường hợp xả giới hoàn tục thì phải hoàn trả và không được phép coi là tài sản riêng.

Mặt khác, những tài sản thuộc sở hữu cá nhân của các nhà sư, nhà tu hành có thể kể tới như những tài sản được xác lập trước thời điểm nhà sư xuất gia. Hơn nữa, đối với các tài sản mà cá nhân sư Trụ trì tự sản xuất và kinh doanh hợp pháp trước khi được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì thì vẫn được coi là tài sản cá nhân của nhà sư. Cụ thể tại khoản 4 Điều 29 Nội quy ban tăng sự T.Ư khóa VIII

“Điều 29. Định đoạt tài sản Tự viện

….

4) Các tài sản khác do cá nhân Trụ trì sản xuất, kinh doanh hợp pháp, người khác tặng, cho hợp pháp theo pháp luật Nhà nước trước khi được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì, không bị chi phối bởi điều 27, 28 Nội quy này.”

Từ những quy định của pháp luật và nội quy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ được những vấn đề liên quan tới tài sản của nhà sư, mà cụ thể hơn là các nhà sư trụ trì của Tự viện. Qua nhìn lại trường hợp đang là đề tài bàn tán nóng bỏng của dư luận khi thầy Thích Thanh Toàn đòi được giữ số tài sản riêng lên tới 200-300 tỷ, thì có thể thấy yêu cầu của vị này hoàn toàn có cơ sở. Tuy nhiên, cũng phải đặt ngược lại vấn đề rằng, liệu một nhà sư bằng cách nào mà vận động và kinh doanh trong quá trình tu hành tích lũy được số tài sản khổng lồ như vậy. Và có chăng số tài sản đó là từ các khoản đóng góp, hiến tặng của tăng ni phật tử cho Tự viên. Do đó, để làm rõ vấn đề trên cần phải có sự vào cuộc và xác minh của các người có thẩm quyền trong Giáo hội Phật giáo để làm sáng tỏ mọi việc.

3. Nhà sư có được đứng tên sổ đỏ không?

Sở đỏ hay còn được gọi tên chính xác theo quy định pháp luật là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở”. Đây là chứng thư pháp lý có giá trị nhằm công nhận quyền sử dụng đối với đất và quyền sở hữu đối với nhà ở của những người có quyền theo pháp luật quy định. Đồng thời, đất và nhà ở đều là những bất động sản, được pháp luật coi là loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.

Pháp luật về đất đai hiện nay quy định rằng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước là đại diện chủ sở hữu và quản lý. Các tổ chức cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất khi được nhà nước giao hoặc cho thuê theo quy định pháp luật. Vì vậy, quyền sử dụng đất cũng được coi như là một quyền tài sản, người đứng tên sở đỏ chính là người có những quyền của người sử dụng đất hợp pháp.

Như đã nêu, nhà sư, nhà tu hành hoàn toàn có quyền bình đăng như bao công dân khác, được công nhận quyền sở hữu đối với những tài sản riêng và quyền sử dụng đối với đất đai được hình thành không từ những tài sản liên quan hoặc thuộc về cơ sở tôn giáo. Tuy vậy, tới thời điểm nhà sư đã được Giáo hội tín nhiệm và được đề cử, bầu cử vào chức vụ trụ trì. Tức nhà sư lúc này trở thành là người đại diện theo pháp luật cho một cơ sở tôn giáo thì theo quy định tại Điều 29 Nội quy ban tăng sự T.Ư khóa VIII (2017-2022) của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam rằng mọi tài sản được phát sinh và nhà sư trụ trì đứng tên sau thời điểm này đều là tài sản thuộc quyền định đoạt của cơ sở tôn giáo.

Bởi vậy, nhà sư có thể đứng tên sổ đỏ một cách hợp pháp. Nhưng vấn đề pháp lý của mảnh đất, căn nhà đó sẽ được chia làm 2 trường hợp như sau. Thứ nhất, nếu đất đai, nhà ở của sổ đỏ được xác lập trước thời điểm nhà sư xuất gia thì được coi là tài sản riêng của nhà sư và khi hoàn tục nhà sư hoàn toàn có quyền đối với những loại tài sản này. Thứ hai, nếu trường hợp khi nhà sư đã trở thành trụ trì của một cơ sở tôn giáo thì nhà sư trụ trì có thể thay mặt Tự viện đứng tên trong sổ đỏ đối với một hoặc một số bất động sản. Nhưng đối với những bất động sản này được coi là thuộc Tự viện chứ không phải thuộc tài sản riêng của nhà sư. Và khi nhà sư trụ trì có hoàn tục như sư Thích Thanh Toàn thì không được công nhận quyền đối với bất động sản đó như tài sản riêng.

Hy vọng bài viết có ích đối với quý độc giả

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ tư vấn đất đai tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay