Chồng đánh vợ bị phạt như thế nào?

Đi cùng với sự phát triển vượt bậc của kinh tế xã hội, guồng quay cơm áo gạo tiền khiến con người ta ngày càng trở nên vô cảm và băng lạnh. Bạo lực gia đình đang ngày càng trở thành vấn nạn đáng lên án của xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở địa phương cho thấy thực tế trong đời sống, bạo lực gia đình thường xuyên xảy ra nhưng do nhận thức và quan niệm của mỗi người nên chưa có những biện pháp xử phạt thích đáng. Trong khuôn khổ bài viết dưới đây, hãy cùng Luật sư X đi trả lời câu hỏi: Chồng đánh vợ bị phạt như thế nào nhé.

Căn cứ pháp lí.

1.Chồng đánh vợ có thể bị xử lí hành chính. 

Những quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình được quy định tại điều 49, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Tuỳ vào mức độ vi phạm  mà người chồng sẽ bị xử phạt như sau:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khoẻ thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nận nhân điều trị chấn trhương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nận nhân từ chối;

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

2. Chồng đánh vợ có thể bị xử lí theo pháp luật dân sự. 

Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 có quy định ạn nhân bạo lực gia đình có các quyền như yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc. Đây là những quy định thực sự thiết thực và cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của nạn nhân bạo lực gia đình, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, những chủ thể yếu thế trong xã hội. 

Điều 4 Luật Phòng chống bạo lực gia đình quy định nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình là “Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật”.  Bên cạnh đó, điều 42 của Luật này cũng ghi nhận, người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình… nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Những quy định này này là hoàn toàn phù hợp với quy định của điều 604 Bộ luật dân sự 2015:

Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gấy thiệt hại thì phải bồi thường

Các nguyên tắc bồi thường, xác định thiệt hại được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình, người gây thiệt hại phải bồi thường và người được bồi thường lại là những thành viên trong cùng một gia đình với những mối quan hệ bền chặt về mặt tình nghĩa cũng như là về mặt kinh tế, nên công tác tiến hành việc xử phạt sẽ ít nhiều gặp khó khăn, khúc mắc. 

3. Chồng đánh vợ có thể bị xử lí theo pháp luật hình sự.

Không những thế, nếu hành vi đánh đập vợ của người chồng gây nên hậu quả nặng nề, chủ thể thực hiện hành vi có thể bị xử lí theo pháp luật hình sự về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình.

Tội danh này được quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Cấu thành tội phạm của tội này được thể hiện qua bốn yếu tố như sau: 

Thứ nhất, về chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình là chủ thể thể thường, là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp ngược đãi vợ hoặc chồng thì phải đủ độ tuổi kết hôn (nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi

Thứ hai, về khách thể của tội phạm. Khách thể của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình bao gồm hai đối tượng. 

  • Một là quan hệ gia đình. Quan hệ này không chỉ được quy định tại Hiến pháp mà nó được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình: “Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau” (khoản 2 Điều 21); “Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con” (khoản 2 Điều 34); “Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ” (Điều 35); “Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu… có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu” (Điều 47). 
  • Hai là sức khỏe và tinh thần của người bị ngược đãi 

Thứ ba, về Mặt chủ quan của tội phạm. Chủ thể thực hiện tội phạm với lõi cố ý trực tiếp. Người phạm tội đã biết trước được mối nguy hiểm trong hành vi ngược đãi của mình, nhận thức được rằng hành vi ngược đãi ông bà, cha mẹ, vợ chồng của mình sẽ trực tiếp gây tổn hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ như quan hệ gia đình, sức khỏe tinh thần của người bị ngược đãi nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn hậu quả đó xảy ra. 

Thứ tư, về Mặt khách quan của tội phạm

  • Về hành vi khách quan: 
    • Người phạm tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình có thể có một trong hai hành vi, đó là hành vi ngược đãi và hành hạ hoặc cả hai hành vi này.
    • Hành vi ngược đãi hoặc hành hạ tương tự như hành vi ngược đãi, hành hạ trong tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân, tự nguyện, tiến bộ quy định tại Điều 146 và tội hành hạ người khác quy định tại Điều 110Bộ luật hình sự.
    • Ngược đãi ông bà, cha mẹ, con, cháu, người có công nuôi dưỡng là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, trái với lẽ phải, với đạo đức của cháu đối với ông bà, của con đối với bố mẹ, của vợ đối với chồng hoặc của chồng đối với vợ, cha hoặc mẹ đối với con, người được nuôi dưỡng đối với người có công nuôi dưỡng mình.
    • Hành vi ngược đãi, hành hạ thông thường được hiểu là đối xử tồi tệ về ăn mặc, ở và về các mặt sinh hoạt thường ngày khác đối với người thân như: nhiếc móc, bắt nhin ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách một cách không bình thường hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm đến thân thể người bị hại như đánh đập, giam hãm, làm cho người bị hại đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần.
    • Các hành vi trên chỉ cấu thành tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình khi người có hành vi ngược đãi hoặc hành hạ đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm
  • Về  hậu quả: 

    • Hành vi  ngược đãi, hành hạ gây hậu quả nghiêm trọng, tức là làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe

    • Hậu quả của tội phạm này là hậu quả nghiêm trọng, nếu hậu quả gây ra chưa nghiêm trọng mà người phạm tội cũng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình cũng chưa cấu thành tội phạm này.

Nếu hành vi đánh đập của người chồng đáp ứng đủ bốn tiêu chí trên, thì người chồng sẽ bị xử lí hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, với các mức hình phạt tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi như sau: 

  • Khung hình phạt thứ nhất: phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm đối với những trường hợp sau:
    • Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;
    • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
  • Khung hình phạt thứ hai: Phạt tù từ 2 năm đến 5 năm đối với những trường hợp sau:
    • Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu
    •  Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

Theo đó, nếu người chồng thực hiện hành vi đánh đạp vợ của mình trong khoảng  thời gian mà cô ấy có thai, hoặc người vọ là người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo, thì hình phạt mà anh ta phải chịu lên tới 5 năm tù giam. 

Hy vọng bài viết có ích cho bạn!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ ly hôn tại  Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay