Kết hôn khi đang đi du học có được không?

Kết hôn là quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể trong đời sống xã hội của mỗi cá nhân, nhằm mục tiêu cao cả là "duy trì nòi giống". Tuy nhiên, việc kết hôn phải đảm bảo những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, việc đăng ký kết hôn nói chung và vần đề du học sinh muốn kết hôn khi đang học tập ở nước ngoài nói riêng cần đáp ứng điều kiện nhất định. Luật Sư X sau đây sẽ giúp bạn nội dung này như sau:

 

Cơ sở pháp lý

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
  • Luật Hộ tịch 2014;
  • Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định về quản lý và đăng ký hộ tịch;
  • Thông tư số 01/2008/TT-BTP, hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch.

 

Nội dung tư vấn

Cũng giống như người Việt Nam ở trong nước, trong tình huống này, du học sinh muốn kết hôn với người Việt Nam nên chúng ta xác định là không có yếu tố nước ngoài. Như vậy, du học sinh muốn kết hôn thì đáp ứng những điều kiện cụ thể về điều kiện đăng ký kết hôn, trình tự thủ tục đăng ký kết hôn.

1. Về điều kiện đăng ký kết hôn 

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014: "Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn".

Tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định điều kiện về đăng ký kết hôn như sau:

"1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này".

Nếu hai bạn đã đủ tuổi, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc một trong các trường hợp sau thì hoàn toàn có quyền được đăng ký kết hôn mà không cần có sự đồng ý của bố mẹ hai bên và không thuộc một trong những trường hợp cấm kết hôn sau:

  • Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo.
  • Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn.
  • Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ.
  • Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng".

2. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Vì bạn thuộc trường hợp đang là du học sinh ở nước ngoài mà muốn kết hôn nên bạn cần có giấy xác nhận của nơi bạn học về tình trạng hôn nhân của bạn. Đây là căn cứ để bạn trình ra trước cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn sau này.

Theo Điều 65 Nghị định 185/2005 NĐ-CP quy định Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm: "Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương này được sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc vào các mục đích khác."

Tại Khoản 3 Điều 66 của Nghị định 185/2015/NĐ-CP quy định công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian ở nước ngoài, thì Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam ở nước mà người đó cư trú, thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

3. Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn với người đang học tập ở nước ngoài

Theo điểm d khoản 2 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP, hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch do Bộ Tư pháp ban hành thì :

"2. Đăng ký kết hôn

...

d) Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan."

Như vậy, đối với những đối tượng du học sinh được giải quyết như những trường hợp công dân Việt Nam cư trú trong nước kết hôn với nhau. Cụ thể: người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương.

Tại Điều 17, 18 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP hướng dẫn về quản lý và đăng ký hộ tịch quy định về trình tự thủ tục đăng ký cho người Việt Nam đang học tập ở nước ngoài như sau:

  • Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.
    • Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.
    • Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại chương V của Nghị định này.
    • Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.
  • Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
  • Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của vợ, chồng.

Về thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định như sau tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP:

"Điều 17. Thẩm quyền đăng kết kết hôn 

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.

 2. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ."

Hy vọng bài viết có ích cho bạn!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về luật sư tranh tụng Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ