Phân biệt giao dịch vô hiệu do lừa dối và do nhầm lẫn

Giao dịch dân sự là công cụ pháp lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc chuyển giao tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các mọi người trong xã hội. Tuy nhiên không phải bất kì giao dịch dân sự nào cũng hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Pháp luật dân sự quy định một trong số các lý do khiến cho các giao dịch vô hiệu đó là được việc các bên có hành vi lừa dối và nhầm lẫn trong giao dịch dân sự. Vậy sự khác nhau giữa các giao dịch vô hiệu do lừa dối và các giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn là như nào? Hãy cùng Luật sư X tìm hiêu thông qua bài viết sau đây.

Căn cứ:

Nội dung tư vấn

1. Thế nào là giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối?

Đầu tiên, trước khi đề cập tới giao dịch bị vô hiệu do lừa dối, hãy cùng điểm lại những quy định về giao dịch dân sự. Theo quy định tại điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định thì giao dịch dân sự là cách gọi nhằm chỉ chung cho các hợp đồng và các hành vi pháp lý đơn phương. Thông qua các giao dịch dân sự, các bên sẽ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự được xem là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Cũng chính vì vậy, khi một bên tham gia giao dịch dân sự nhận thấy bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Cụ thể hơn, Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Khoa học pháp lý đã đưa ra những điều kiện để xác định khi nào thì lừa dối tồn tại. Phần lớn pháp luật các nước đều coi những lừa dối có tính chất quyết định đến sự giao kết giao dịch dân sư là yếu tố vô hiệu của giao dịch. Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì sẽ không có giao kết giao dịch dân sự. Sự lừa dối là căn cứ làm cho giao dịch bị vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không tham gia giao dịch. Ví dụ việc một người bán hàng khoe không đúng sự thật về hàng hóa của mình hoặc người bán hàng nói giá quá cao (nói thách) thì không bị xem là lừa dối. Bởi lẽ trong các trường hợp này người tiếp nhận thông tin không bị buộc phải tham gia giao dịch dân sự nếu họ không muốn.

Về nguyên tắc, hành vi lừa dối phải do chính một bên giao kết thực hiện. Tuy nhiên, dù một người giao kết giao dịch dân sự không trực tiếp thực hiện hành vi gian trá nhưng đã tham gia hoặc đồng lõa với hành vi gian trá đó thì hành vi này cũng được coi là do chính người tham gia giao dịch thực hiện. Đối với người thứ ba ngay tình thì sự ảnh hưởng của hậu quả pháp lí không được tính đến. Pháp luật của một số nước, trong một số trường hợp coi sự kiện không nói ra điều mà người kí có trách nhiệm phải nói khi thiết lập giao dịch dân sự cũng được coi là hành vi gian trá và trong một số trường hợp pháp luật cũng thừa nhận việc khai gian hay im lặng trong trường hợp xét một cách hợp lý phải thông tin cho người cùng giao kết biết là lừa dối. Nhưng pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ coi những hành vi cố ý của một bên mà không thừa nhận sự im lặng hoặc không thông tin khi có nghĩa vụ thông tin đến người cùng giao kết giao dịch dân sự là lừa dối. 

2. Thế nào là giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn?

Bộ luật dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự có sự nhầm lẫn của một hoặc các bên là một trong những yếu tố làm vô hiệu các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trong đó lại không hề có một định nghĩa rõ ràng nào về thế nào là nhầm lẫn. Cụ thể, Điều 126 Bộ Luật dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn như sau:

Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.

Tuy không được pháp luật định nghĩa một cách rõ ràng, nhưng từ thực tế có thể xác định nhầm lẫn là sự khác nhau giữa nhận thức của một bên về một vấn đề và thực tế của vấn đề này. Chẳng hạn, một bên nhận thức rằng đây là thật nhưng thực tế là giả. Bất kỳ sự khác nhau nào giữa nhận thức và thực tế đều có thể được coi là nhầm lẫn. Cụ thể hơn, nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia. Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được. Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu.Trong nhiều trường hợp, sự nhầm lẫn có thể xảy đến do lỗi của bên đối tác. Khi một bên có lỗi làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch mà xác lập giao dịch (ví dụ: Không đưa ra chỉ dẫn rõ ràng bằng tiếng Việt về công dụng của tài sản…) thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 126 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, lỗi ở đây chỉ có thể là lỗi vô ý. Nếu sự nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tác thì khi đó sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối.

3. So sánh giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn và do lừa dối

Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến giao dịch dân sự bị khi một bên cố ý làm cho bên kia phải giao kết không theo ý muốn thực. Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết  và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật. Song sự lừa dối khác với nhầm lẫn ở chỗ: Sự nhầm lẫn vốn do người tham gia giao dịch dân sự tự mình hiểu sai còn sự lừa dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra. Sự phân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn được xác định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên. Nhầm lẫn hay lừa dối đều đưa đến hệ quả là giao dịch có thể bị vô hiệu do thỏa thuận không thể hiện đúng ý chí thật của các bên.

Các giao dịch dân sự bị vô hiệu do nhầm lẫn và do lừa dối đều có chung hậu quả pháp lý đó là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Cụ thể hơn, Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 còn quy đinh rằng khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền.

Một điểm tương đồng nữa đó là thời hiệu để các bên khởi kiện yêu cầu tòa tuyên bố đối với các giao dịch bị cho là giao kết có sự nhầm lẫn và lừa dối đều là 2 năm (Điểm b Khoản 2 Điều 132 Bộ Luật dân sự 2015).

Hy vọng bài viết có ích đối với quý độc giả!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về tư vấn pháp luật dân sự tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay