10 trường hợp chỉ được khởi tố khi người bị hại có yêu cầu

Rất nhiều người hiện nay vẫn thắc mắc rằng có những trường hợp vi phạm quy định của pháp luật hình sự nhưng không tiến hành khởi tố, phải chăng cơ quan chức năng không nhìn thấy những hành vi phạm tội của họ mặc dù có đủ bằng chứng, chứng cứ?

Căn cứ:

  • Luật hình sự 2015
  • Luật tố tụng hình sự 2015

Nội dung tư vấn

1. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại trong trường hợp nào?

Thông thường, một vụ án hình sự sẽ được tiến hành theo quy trình: Khởi tố- Điều tra- Truy tố- Xét xử và quyết định khởi tố phải được đưa ra bởi Viện Kiểm sát.
Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bên bị hại. Cụ thể theo quy định tại điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự:

Điều 155: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Như vậy 10 trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết, cụ thể:

Trường hợp 1: Khoản 1 Điều 134 về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
Trường hợp 2: Khoản 1 Điều 135 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
Trường hợp 3: Khoản 1 Điều 136 về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
Trường hợp 4: Khoản 1 Điều 138 về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
Trường hợp 5: Khoản 1 Điều 139 về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;
Trường hợp 6: Khoản 1 Điều 141 về Tội hiếp dâm;
Trường hợp 7: Khoản 1 Điều 143 về Tội cưỡng dâm;
Trường hợp 8: Khoản 1 Điều 155 về Tội làm nhục người khác;
Trường hợp 9: Khoản 1 Điều 156 về Tội vu khống;
Trường hợp 10: Khoản 1 Điều 226 về Tội xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp.

2. Hậu quả pháp lý khi bị hại rút yêu cầu 

Hậu quả của hành vi rút đơn yêu cầu khởi tố của bị hại được quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự

Điều 155: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

 

Hy vọng bài viết hữu ích cho bạn!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay