Bỏ ma túy vào xe người khác bị tội gì?

Gần đây, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm đã và đang xét xử vụ việc phát hiện ma túy trên xe ô tô của anh N.V.Thiện được chị N.T.Vân bỏ vào nhằm mục đích tống anh Thiện vào tù do mâu thuẫn tình cảm. Vậy hành vi bỏ ma túy vào xe của người khác sẽ sẽ bị truy tố về tội gì? Bài viết dưới đây của Luật sư X sẽ giải đáp thắc mắc của các bạn.

Căn cứ:

  • Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Nội dung tư vấn:

Bỏ ma túy vào xe người khác có thể bị truy tố tội vu khống Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể:

1. Tội vu khống

Một người thực hiện hành vi bỏ ma túy vào xe người khác có thể bị truy tố về tội vu khống theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự vì hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội vu khống. Cụ thể:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%77;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên78;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khách thế của tội phạm:

Tội phạm này xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, đến quyền và lợi ích của người khác.

Mặt khách quan của tội phạm:

  • Người phạm tội thực hiện các hành vi sau:
    • Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
    • Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền. Việc bịa đặt lan truyền có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào như vẽ, tranh ảnh, loa truyền thanh…
  • Tội này hoàn thành từ thời điểm lan truyền cho người khác biết những lời bịa đặt hoặc có đơn hay trực tiếp vu khống bằng lời nói và tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chủ thể của tội phạm:

Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi cố ý trực tiếp, mong muốn hạ thấp nhân phẩm, danh dự của người khác hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi của người khác.

Hình phạt:

  • Hình phạt chính: có 3 khung hình phạt
    • Khung 1: quy định hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm đối với các trường hợp người phạm tội thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 156 BLHS.
    • Khung 2: quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 03 năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 2 Điều 156 BLHS.
    • Khung 3: quy định hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 3 Điều 156 BLHS.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Khi thực hiện hành vi bỏ ma túy vào xe người khác không chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu không theo Điều 156 Bộ luật hình sự mà còn bị truy tố theo tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Cụ thể: hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng tù 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Mặt khách thể của tội phạm:

  • Khách thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý.
  • Đối tượng tác động của tội phạm này là các chất chất ma tuý. Ở nước ta, các chất ma tuý thường gặp là thuốc phiện, Hêrôin, Mooc phin, cần sa và một số loại ma tuý ở dạng thuốc tân dược như: Suzusen, Dolagăng, Methamphetamin…

Mặt khách quan của tội phạm:

  • Hành vi khách quan:
    • Người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý ở bất cứ nơi nào như: Trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức; phương tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách… mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc vận chuyển từ này đến nơi khác.
    • Việc tàng trữ này phải thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người thực hiện hành vi mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.
  • Hậu quả:
    • Hậu quả của các tội phạm về ma tuý nói chung và hậu quả của tội tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Những thiệt hại do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội chính là những thiệt hại phi vật chất (chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý ).
    • Riêng hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nếu trọng lượng chất ma tuý dưới mức hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ nội vụ tại Thông tư liên tich số 01/1998 ngày 2-1-1998 thì chưa cấu thành tội phạm.

Chủ thể của tội phạm:

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy cũng phải đảm bảo các yếu tố cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chỉ những người sau đây mới có thể là chủ thể của tội phạm này:

  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
  • Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của Điều 249 Bộ luật hình sự, vì các trường hợp phạm tội này là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Mặt chủ quan của tội phạm:

  • Lỗi của người phạm tội: Người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.
  • Mục đích và động cơ phạm tội: Không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội.

Hình phạt:

  • Hình phạt chính:
    • Khung 1: Phạm tội thuộc khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
    • Khung 2: Phạm tội thuộc khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
    • Khung 3: Phạm tội thuộc khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
    • Khung 4: Phạm thuộc khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hy vọng bài viết sẽ hữu ích với bạn!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay