Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200 như thế nào?

bởi Thanh Hà
Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200

Đôi khi trong lao động, con người sẽ có nhiều khi phải rơi vào các tình huống như thất nghiệp, việc làm không như ý,… nên khá khó khăn. Tuy nhiên, nhà nước ta luôn đề ra những quỹ dự phòng trợ cấp riêng để đáp ứng cho con người những điều kiện tốt nhất. Đó chính là quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm theo thông tư 200 của Luật sư X, mời bạn tham khảo để hiểu rõ hơn.

Dự phòng trợ cấp mất việc làm là gì?

Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200
Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200

Trợ cấp mất việc làm là khoản trợ cấp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động đã thao tác tiếp tục cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo lao lý .

Pháp luật lao lý người lao động bị mất việc thỏa mãn nhu cầu những điều kiện kèm theo sau thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp :

– Người lao động đã thao tác liên tục từ đủ 12 tháng trở lên ;

– Người lao động mất việc thuộc những trường hợp sau :

+ Trường hợp biến hóa cơ cấu tổ chức, công nghệ tiên tiến hoặc vì nguyên do kinh tế tài chính .

Trong đó, những trường hợp sau đây được coi là đổi khác cơ cấu tổ chức, công nghệ tiên tiến : Thay đổi cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai, tổ chức triển khai lại lao động ; Thay đổi tiến trình, công nghệ tiên tiến, máy móc, thiết bị sản xuất, kinh doanh thương mại gắn với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh thương mại của người sử dụng lao động ; Thay đổi loại sản phẩm hoặc cơ cấu tổ chức mẫu sản phẩm .

Những trường hợp được coi là vì lý do kinh tế đó là:  Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế; Thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế; Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Người lao động là đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp và thuộc 1 trong các trường hợp:

– Doanh nghiệp đổi cơ cấu, công nghệ mà không thể sắp xếp được công việc phù hợp cho người lao động;

– Trường hợp vì lý do kinh tế mà buộc người lao động phải thôi việc;

– Trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã không có phương án công việc phù hợp cho người lao động;

– Thực hiện chuyển quyền sử hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp nhưng không sắp xếp được công việc cho người lao động.

Người lao động là đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp và thuộc 1 trong các trường hợp:

– Doanh nghiệp đổi cơ cấu, công nghệ mà không thể sắp xếp được công việc phù hợp cho người lao động;

– Trường hợp vì lý do kinh tế mà buộc người lao động phải thôi việc;

– Trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã không có phương án công việc phù hợp cho người lao động;

– Thực hiện chuyển quyền sử hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp nhưng không sắp xếp được công việc cho người lao động.

Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200

Quy định của pháp luật Việt Nam quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp để chi trợ cấp thôi việc, mất việc làm, huấn luyện và đào tạo nghề cho người lao động tại doanh nghiệp .

Khi phát sinh chi trợ cấp mất việc làm doanh nghiệp được hạch toán khoản chi trợ cấp mất việc làm cho người lao động vào ngân sách quản trị doanh nghiệp và được trừ khi xác lập thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp .

Trường hợp trong năm doanh nghiệp có thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ, số lượng lao động mất việc làm phát sinh lớn, nếu hạch toán đủ vào chi phí số tiền đã chi trợ cấp mất việc làm (trừ số dư Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm đã sử dụng để chi nếu có) cho người lao động của doanh nghiệp mà phát sinh lỗ, thì doanh nghiệp được hạch toán phân bổ số tiền đã chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động vào chi phí quản lý doanh nghiệp các năm sau, thời gian phân bổ tối đa là 3 năm.

Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm theo thông tư 200 thì nhiều người quan tâm đến phương pháp hạch toán. Phương pháp hạch toán kế toán khoản chi trợ cấp mất việc làm cho người lao động tại doanh nghiệp thực hiện cụ thể như sau:

– Khi chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động từ nguồn dư Quỹ tại thời gian 31/12/2011 ghi :

Nợ TK 351 – Quỹ trợ cấp mất việc làm

Có những TK 111, 112, … … …

– Khoản chi trợ cấp mất việc làm cho người lao động trong năm kinh tế tài chính được hạch toán vào ngân sách quản trị doanh nghiệp, ghi :

Nợ TK 642 – giá thành quản trị doanh nghiệp

Có những TK 111, 112, … … .

– Trường hợp số tiền chi trả trợ cấp mất việc làm trong năm phát sinh lớn, hạch toán vào ngân sách của doanh nghiệp mà phát sinh lỗ, doanh nghiệp được hạch toán phân chia vào ngân sách quản trị doanh nghiệp năm sau, thời hạn phân chia tối đa là 3 năm, sau khi chi trả ghi :

Nợ TK 242 – giá thành trả trước dài hạn .

Có những TK 111, 112, … … ..

Khi phân chia ghi :

Nợ TK 642 – Ngân sách chi tiêu quản trị doanh nghiệp

Có TK 242 – giá thành trả trước dài hạn

– Nguồn dư Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp (nếu có) khi lập báo cáo tài chính năm 2012 hạch toán tăng thu nhập khác của doanh nghiệp ghi:

Nợ TK 351 – Quỹ trợ cấp mất việc làm

Có TK 711 – Thu nhập khác

Thời gian trợ cấp mất việc làm

Căn cứ khoản 5 Điều này, tiền lương tháng tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.

Trường hợp người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau thì tiền lương tính trợ cấp mất việc làm được xác định như sau:

Là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.

Nếu hợp đồng lao động cuối cùng bị tuyên vô hiệu (vì có nội dung tiền lương thấp hơn mức tối thiểu vùng hoặc mức trong thỏa ước lao động tập thể) thì tiền lương tính trợ cấp sẽ do các bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu vùng hoặc mức lương theo thỏa ước lao động tập thể.

Căn cứ Khoản 3 Điều 8 Nghị định 145 nêu rõ, thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và thời gian đã được chỉ trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Thời gian làm việc tính trợ cấp=Tổng thời gian làm việc thực tếThời gian đã tham gia BHTNThời gian làm việc đã được trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm

Trong đó:

– Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế gồm:

+ Thời gian trực tiếp làm việc;

+ Thời gian thử việc;

+ Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học;

+ Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản;

+ Thời gian nghỉ điều trị, phục hồi chức năng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương;

+ Thời gian nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công mà được người sử dụng lao động trả lương;

+ Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động;

+ Thời gian nghỉ hằng tuần;

+ Thời gian nghỉ việc hưởng nguyên lương;

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại điện người lao động;

+ Thời gian bị tạm đình chỉ công việc.

– Thời gian đã tham gia BHTN gồm:

+ Thời gian người lao động đã tham gia BHTN;

+ Thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia BHTN nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương một khoản tiền tương đương với mức đóng BHTN.

– Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm được tính theo năm (đủ 12 tháng) nên các trường hợp lẻ tháng sẽ được làm tròn:

+ Có tháng lẻ ít hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm;

+ Trên 06 tháng được tính bằng 01 năm.

Mời bạn xem thêm

Thông tin liên hệ

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về “Dự phòng trợ cấp mất việc làm theo Thông tư 200”. Nếu quý khách có nhu cầu soạn thảo thông báo về mẫu xin tạm ngừng kinh doanh; xin giấy phép bay flycam, đơn xác nhận độc thân mới nhất, mã số thuế cá nhân, đăng ký bảo hộ thương hiệu độc quyền hoặc muốn giải thể công ty, hồ sơ tạm ngừng kinh doanh, tra cứu thông tin quy hoạch, hồ sơ xin tạm ngừng kinh doanh của chúng tôi; mời quý khách hàng liên hệ đến hotline để được tiếp nhận.

Liên hệ hotline: 0833.102.102.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên tắc trích lập dự phòng trợ cấp mất việc làm là gì?

– Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp dùng để chi trợ cấp thôi việc, mất việc làm, đào tạo lại nghề cho người lao động tại doanh nghiệp theo quy định hiện hành.
– Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm được trích lập và hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ của doanh nghiệp. Trường hợp quỹ dự phòng trợ cập mất việc làm hàng năm không chi hết được chuyển số dư sang năm sau. Trường hợp quỹ dự phòng trợ cấp việc làm không đủ để chi trợ cấp cho người lao động thôi việc, mất việc tong năm tài chính thì toàn bộ phần chênh lệch thều được hạch toán vào chi phí nghiệp trong kỳ.
– Thời điểm trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm là thời điểm khóa sổ kế toán để lập báo cáo tài chính năm. Trường hợp doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ (quý) thì có thể điều chỉnh quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm theo quý khi lập báo cáo tài chính.

Khoản trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm được tính thế nào?

Kể từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 trở về trước: Khoản trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo đúng chế độ hiện hành được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Kể từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 trở đi: Khoản trích lập Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm cho người lao động của doanh nghiệp (nếu có) sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thời gian tính tiền lương bình quân trong quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm là gì?

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.

5/5 - (1 bình chọn)

Có thể bạn quan tâm