Tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú được quản lý như thế nào?

Theo quy định tại  Bộ luật Dân sự năm 2015, khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật dân sự, Tòa án có thể giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người quản lý tài sản. Vậy tài sản của người vắng mặt ở nơi cứ trú được quản lý như thế nào? Luật Sư X sau đây sẽ giúp bạn giải đáp thắc mắc trên như sau:

Cơ sở pháp lý

Nội dung tư vấn

1. Về yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Như đã nói ở phần đầu thì khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về Tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật Dân sự 2015.

Việc yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó được quy định tại Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đối tượng được quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

Theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án có thể giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho một trong số những đối tượng sau:

Trường hợp 1: Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:

  • Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;
  • Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
  • Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

Trường hợp 2: Khi không có những người theo quy định tại trường hợp 1 thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

3. Quyền và nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt nơi cư trú

3.1. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt nơi cư trú

Khi được giao quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú, người quản lý có quyền sau đây theo quy định tại Điều 67 Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm:

  • Quản lý tài sản của người vắng mặt;
  • Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt;
  • Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.

3.2. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt nơi cư trú

Ngoài quyền lợi mà người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có được, người này còn phải chấp hành những nghĩa vụ sau theo quy định tại Điều 66 Bộ luật Dân sự gồm:

  • Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.
  • Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.
  • Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.
  • Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Hy vọng bài viết trên hữu ích với bạn. Trân trọng!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sự dân sư tại Việt Nam.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay.