Tự ý nghỉ việc có được trả lương không?

Thật tuyệt vời nếu chúng ta ra trường tìm được một công việc gắn bó với mình lâu dài phải không nào? Tuy nhiên, có những lúc hoàn cảnh không cho phép chúng ta được quyết định mọi việc. Đôi lúc vì một sự kiện nào đó, chúng ta buộc phải tự ý nghỉ việc đột suất mà không có thời gian chuẩn bị. Vậy trường hợp tự ý nghỉ việc này thì số tiền lương trong tháng của bạn có được chi trả?

 

Căn cứ:

 

Nội dung tư vấn

1. Tự ý nghỉ việc là trái pháp luật!

Xét về quyền, thì "nghỉ việc" là quyền của người lao động. Điều này được quy định rõ tại Điểm b, Khoản 2 và Khoản 3, Điều 37 Bộ Luật lao động 2012 quy định như sau:

“Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này; người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ; hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày; trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.


Tuy nhiên, "nghỉ việc" là quyền của người lao động nhưng đi đôi với với quyền là nghĩa vụ. Cụ thể trong trường hợp này, người lao động phải có nghĩa vụ báo trước cho người sử dụng lao động trước 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn, ít nhất 03 ngày đối với hợp đồng thời vụ, công việc dưới 12 tháng; ít nhất 45 ngày đối với công việc không xác định thời hạn.

Hơn nữa, Đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng thời vụ, người lao động chỉ được nghỉ việc trước thời hạn đối với những trường hợp do pháp luật quy định. Có nghĩa là, bên cạnh nghĩa vụ thông báo, thì người lao động cũng phải có một lý do nghỉ việc "đúng luật". Còn đối với hợp đồng không xác định thời hạn, người lao động chỉ cần đáp ứng về mặt thông báo mà không cần xác định nguyên nhân. Điều này quy định rõ tại Khoản 1 Điều 37 Luật Lao động 2012:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

....

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày; trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.


Theo đó, việc "tự ý nghỉ việc" đã vi phạm nghĩa vụ báo trước về mặt thời gian cho người lao động. Căn cứ theo quy định của pháp luật, đây là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Cụ thể tại Điều 41 Bộ Luật lao động 2012:

Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”.

 

2. "Tự ý nghỉ việc" sẽ phải bồi thường!

Khi có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, đương nhiên, đây là hành vi gây bất lợi cho người sử dụng lao động về mặt nhân lực cũng như về tiến độ công việc. Pháp luật đưa ra những chế tài buộc người lao động phải có bồi thường cho người sử dụng lao động. Cụ thể tại Điều 43, Luật lao động 2012:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

 

Như vậy, khi bạn tự ý nghỉ với công ty thì sẽ phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động cùng với khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày không báo trước. Việc tự ý nghỉ việc đôi lúc cũng phải "khéo" và "kiên nhẫn" để không bị hao hụt tiền lương phải không nào ? 

Hy vọng bài viết có ích cho bạn !

 

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ