07 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý diễn ra không còn quá xa lạ trong cuộc sống ngày nay. Giao dịch dân sự có thể có nhiều loại, nó loại quan hệ mua bán, tặng cho, thừa kế,…Tuy nhiên, không phải bao giờ, thiết lập một giao dịch cũng thành công và hợp pháp. Bộ luật dân sự 2015 có quy định 07 trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu. Đó là những trường hợp nào? Tham khảo bài viết dưới đây của Luật sư X. 

Căn cứ:

  • Bộ Luật dân sự 2015
  • Nghị định 44/2013/Nđ-CP

Nội dung tư vấn:

1. Điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực.

Không phải giao dịch dân sự nào cũng có hiệu lực pháp luật. Cụ thể thì giao dịch được thiết lập khi đáp ứng được các điều kiện về chủ thể, về mục đích tham gia, về nội dung của giao dịch, … Cụ thể hóa tại Điều 117 Bộ luật dân sự, các điều kiện cần phải đáp ứng được thể hiện như sau: 

Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể tham gia phải có năng lực hành vi dân sự,  năng lực hành vi này phải phụ thuộc vào loại giao dịch theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như giao dịch mua bán về nhà đất, độ tuổi phải là tuổi từ 18 tuổi trở lên, dưới 18 tuổi phải có sự đồng ý của người đại diện. 

Thứ hai, về năng lực pháp luật dân sự thì pháp luật yêu cầu, người tham gia vào quan hệ này phải có tính tự nguyện. Tính tự nguyện trong quan hệ dân sự luôn được pháp luật đề cao. Ở đây, các bên có thể tự do thỏa thuận về nội dung về giao dịch tất nhiên phải xuất phát từ tính tự nguyện. 

Thứ ba, về mục đích và nội dung của giao dịch. Giao dịch dân sự được thiết lập không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Pháp luật cấm các giao dịch phát sinh vi phạm đọa đức xã hội, chẳng hạn như quan hệ mua bán dâm,…

Thứ tư, Về hình thức của giao dịch. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Ngoài ba hình thức này, giao dịch dân sự sẽ không có hiệu lực. 

Ngoài ra, nếu các trường hợp giao dịch dân sự luật quy định bắt buộc phải có công chứng, chứng thực thì phải lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực.

Cụ thể hóa như tại điều 117 Bộ luật dân sự như sau: 

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. 07 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

Bên cạnh việc quy định về điều kiện có hiệu lực của pháp luật thì pháp luật cũng hướng dẫn về các trường hợp sẽ bị vô hiệu khi thuộc 1 trong 7 trường hợp sau: 

  • Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu từng phần hoặc toàn phần. Khi đó, vô hiệu một phần của giao dịch dân sự bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của những nội dung khác trong giao dịch dân sự. Lúc này, Một khi hợp đồng bị vô hiệu nghĩa là quyền và lợi ích của các bên bị ảnh hưởng lúc này, để đảm bảo quyền lợi cho cá bên, các hướng dẫn xử lý hợp đồng vô hiệu được quy định tại Nghị định 44/2013/Nđ-CP. Cụ thể như sau: 

Đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ

  • Nếu Toàn bộ nội dung hợp đồng trái pháp luật thì Hợp đồng đó sẽ bị hủy bỏ.
  • Nếu sai thẩm quyền ký thì Ký lại hợp đồng.
  • Nếu Công việc trong hợp đồng bị pháp luật cấm thì Ký kết hợp đồng mới.

 Đối với hợp đồng vô hiệu một phần:

Trường hợp này đơn giản hơn bởi các bên có thể thực hiện sửa đổi, bổ sung hợp đồng bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng hoặc giao kết hợp đồng mới.

Quy định trên được cụ thể hóa như sau:

Điều 11. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ

1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn các bên ký lại hợp đồng lao động.

2. Hợp đồng lao động có toàn bộ nội dung của hợp đồng trái pháp luật bị hủy bỏ khi có quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ do toàn bộ nội dung của hợp đồng quy định quyền lợi của người lao động thấp hơn so với quy định của pháp luật về lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng thì người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm giao kết hợp đồng lao động mới theo quy định của pháp luật về lao động.

Mặc dù bị tuyên vô hiệu nhưng pháp luật vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích của người lao động từ khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu đến khi ký kết hợp đồng mới sẽ được giải quyết theo nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể và quy định của pháp luật.

Hy vọng bài viết có ích cho bạn !

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ đăng ký kinh doanh Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay