4 lưu ý khi muốn tổ chức làm thêm giờ

Nhu cầu yêu cầu người làm thêm giờ nhằm đảm bảo tính chất công việc lại không phải tốn thời gian và tiền bạc tuyển nhân sự mới là một phương pháp rất được nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên, vì việc thuê lao động làm thêm ngoài giờ hành chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người lao động. Bởi vậy nên, không phải cứ thích là được yêu cầu làm thêm giờ. Cụ thể, có 04 lưu ý sau khi muốn tổ chức hoạt động làm thêm giờ mà người sử dụng lao động cần phải chú ý. Tham khảo bài viết sau của luật sư X.


Căn cứ:

Nội dung tư vấn

1. Doanh nghiệp không sử dụng lao động làm thêm quá số giờ quy định

Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật quy định số giờ làm mỗi ngày không được quá 8 tiếng. Việc làm thêm trong quãng thời gian này được đánh giá là phù hợp với sức khỏe của người lao động. Bởi vậy, việc làm quá thời gian này sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Chính vì vậy mà tại Điều 105 Bộ luật Lao động 2012 có quy định về thời gian làm thêm giờ như sau: 

  • Nếu là công việc làm thêm giờ theo ngày thì không được quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày;

  • Nếu là công việc làm thêm theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày;

  • Trung bình: Không quá 30 giờ/tháng và 200 giờ/năm.

Cụ thể hóa như sau: 

Điều 106. Làm thêm giờ

1. Làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

2. Người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Được sự đồng ý của người lao động;

b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;

c) Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.

Như vậy, có ngoại lệ đối với các ngành nghề sản xuất gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; công việc cấp bách, không thể trì hoãn  nên giờ làm thêm được phép kéo dài hơn không quá 300 giờ/năm 

Rõ ràng, với định mức về thời gian như vậy nên trường hợp doanh nghiệp yêu cầu người lao động làm quá thời gian quy định trên thì doanh nghiệp đã có hành vi vi phạm pháp luật. Mức xử phạt sẽ được đặt ra. 

Cụ thể căn cứ tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 95/2013/NĐ-CP có quy định như sau: 

Điều 14. Vi phạm quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

...

4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật lao động hoặc quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.

Theo đó, nếu người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm quá số giờ quy định hoặc quá 12h/ngày thì mức xử phạt cao nhất có thể lên đến 50 triệu đồng tùy thuộc vào mức độ vi phạm của người sử dụng cũng như hậu quả của hành vi. 

 

2. Đối với lao động từ 15 - 18 tuổi.

Dựa theo tình hình sức khỏe cũng như là khả năng nhận thức của người lao động chưa thành niên thì pháp luật quy định độ tuổi này chỉ được phép sử dụng sức lao động trong những công việc nhẹ nhàng, không tốn nhiều sức cụ thể như diễn viên, múa, ca hát, vẽ,...

Hiện tại thì chưa có một quy định cụ thể nào về việc yêu cầu người lao động chưa thành niên làm thêm giờ trong công việc nào mà chỉ có danh mục các công việc cấm người lao động trong độ tuổi này như nhuộm, hấp vải sợi; sơ chế tre, nứa, mây, cói; làm việc trên máy bay… 

Căn cứ vào quy định này thì người sử dụng lao động cũng nên phải xem xét, quy định cụ thể tránh vi phạm pháp luật. 

Mức xử phạt sẽ được đặt ra với hành vi sử dụng người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ trừ một số nghề, công việc được pháp luật cho phép hoặc sử dụng lao động là người chưa thành niên làm công việc, tại nơi làm việc bị cấm. Cụ thể hóa tại Điều 19 Nghị định 95/2013/NĐ-CP

Điều 19. Vi phạm quy định về lao động chưa thành niên

1. Phạt cảnh cáo đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi riêng khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng người dưới 15 tuổi mà không ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật;

b) Sử dụng lao động chưa thành niên làm việc quá thời giờ làm việc quy định tại Khoản 2 Điều 163 của Bộ luật lao động;

c) Sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ một số nghề, công việc được pháp luật cho phép.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng lao động là người chưa thành niên làm công việc, tại nơi làm việc bị cấm sử dụng theo quy định tại Điều 165 của Bộ luật lao động;

b) Sử dụng người dưới 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 164 của Bộ luật lao động.

Như vậy mức xử phạt cao nhất trong vi phạm này có thể lên đến 25 triệu đồng. 

 

3.  Doanh nghiệp Không sử dụng phụ nữ mang thai làm thêm giờ

Phụ nữ mang thai là một đối tượng được pháp luật bảo vệ bởi đơn giản, mọi hoạt động không chỉ ảnh hưởng mỗi người mẹ mà còn có cả con. Bởi vậy từ việc chế độ bảo hiểm xã hội đến quyết định sa thải, pháp luật luật có những quy định bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho lao động nữ. Với việc yêu cầu làm thêm giờ cũng vậy. 

Căn cứ theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Lao động 2012 thì lao động nữ, đặc biệt là phụ nữ có thai thì người sử dụng lao động không được phép sử dụng làm thêm giờ. Cụ thể: 

Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

....

Như vậy thì người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm thêm giờ khi mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Hành vi cố tình vi phạm quy định trên có thể khiến doanh nghiệp phải chịu phạt đến 20 triệu đồng căn cứ theo  Điều 18 Nghị định 95/2013/NĐ-CP

Điều 18. Vi phạm quy định về lao động nữ

...

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng lao động nữ làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa thuộc một trong các trường hợp: Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

....

4. Thông báo với cơ quan Nhà nước khi làm thêm tới 300 giờ/năm

Việc làm thêm giờ đôi khi chỉ cần đáp ứng công việc hiện tại trong một khoảng thời gian ngắn, tuy nhiên, việc quản lý của nhà nước về vấn đề này cũng không phải đơn giản. Cụ thể thì căn cứ theo Điều 4 Nghị định 45/2013/NĐ-CP thì khi sử dụng lao động làm thêm giờ từ 200 - 300 giờ/năm với những công việc nêu trên (mục 1) thì doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Nhà nước về lao động tại địa phương (Sở Lao động Thương binh và Xã hội).

Thực hiện trái với quy định này thì doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền đến 05 triệu đồng căn cứ theo khoản 11 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP.

11. Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 14 như sau:

“1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

...

c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về lao động tại địa phương về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.”

 

5. Đảm bảo trả đủ lương làm thêm giờ cho người lao động

Mức lương làm thêm giờ luôn cao hơn so với bình thường như là một số tiền bù lại công sức cho người lao động. Cụ thể tại Điều 97 Bộ luật Lao động 2012, khoản tiền này được tính như sau:

  • Làm thêm vào ngày thường: ít nhất bằng 150%;

  • Làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần: ít nhất bằng 200%;

  • Làm thêm vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương: ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

  • Làm thêm vào ban đêm: ngoài tiền lương làm đêm, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Như vậy, việc đảm bảo lương cho người lao động cần phải được thực hiện đúng quy định. Hành vi cố tình sai phạm doanh nghiệp sẽ bị xử phạt theo quy định. 

Hy vọng bài viết có ích cho bạn.

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về pháp luật lao động tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ