Chia thừa kế trong trường hợp vợ chồng không thống nhất được người thừa kế.

Hai vợ chồng có chung mảnh đất. Khi về già lại có sự mâu thuẫn khi muốn để lại thừa kế cho những người khác nhau. Chồng thì muốn để lại cho con trai nhưng vợ lại muốn để lại cho con gái. Chia thừa kế trong trường hợp này được giải quyết như thế nào? Tìm hiểu qua bài viết dưới đây của Luật sư X.

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật dân sự 2015

Nội dung tư vấn

1. Vợ hay chồng là người có quyền sở hữu mảnh đất? 

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
….

Về nguyên tắc thì tỷ lệ phân chia quyền sở hữu tài sản chung được dựa trên đóng góp; Hoàn cảnh; …của hai bên. Tuy nhiên thường là chia đôi.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Bởi vậy, về mặt pháp lý, mỗi người đều có 1 nửa quyền sở hữu trên mảnh đất này. Và tất nhiên, việc định đoạt tài sản này sẻ chỉ diễn ra trong khuôn khổ quyền sở hữu vốn có đó. Do đó, người chồng sẽ có quyền để lại di sản thừa kế là một nửa mảnh đất, còn người vợ sẽ để lại di sản thừa kế là một nửa mảnh đất còn lại.

2 .Chia thừa kế mảnh đất theo di chúc

Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015 thì di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí về việc phân chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết bằng lời nói hoặc bằng văn bản. Việc phân chia này thể hiện ở quyền định đoạt tài sản, chuyển dịch quyền sở hữu cũng như quyền sử dụng cho người khác sau khi người để lại di chúc chết.Cụ thể hóa như sau:

Điều 609. Quyền thừa kế
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản vẫn được quyền lập di chúc. Tuy nhiên việc lập di chúc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp. Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 625 Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên thì di chúc của vợ chồng là hợp pháp. Tuy nhiên, với nội dung của di chúc thì hai bên chỉ có quyền định đoạt phần tài sản là nửa mảnh đất của mình trong di chúc. Vượt quá phần này sẽ không được pháp luật công nhận hoặc di chúc sẽ bị vô hiệu 1 phần.

Khác với chia thừa kế theo pháp luật, khi chia thừa kế theo di chúc, pháp luật tôn trọng ý chí tự định đoạt của người đã mất với phần tài sản mình để lại. Bởi vậy, để tránh rủi ro và đảm bảo được tài sản của mình được trao cho đúng người mình muốn. Bạn nên viết di chúc trong trường hợp không có sự thống nhất về việc chọn người thừa kế. Lúc này, bất kể ai là người mất trước thì di sản thừa kế vẫn được chia theo di chúc. Nghĩa rằng bà muốn để lại nửa mảnh đất cho con gái hay ông muốn để lại nửa mảnh cho con trai đều được pháp luật thừa nhận. Trừ trường hợp người nhận thừa kế không có quyền thừa kế theo quy định tại Điều 621 Luật dân sự 2015.

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

3. Chia thừa kế mảnh đất theo pháp luật

Chia thừa kế theo pháp luật được đặt ra trong trường hợp người chết không để lại di chúc.Trong trường hợp xấu nhất, vợ/chồng chết không để lại di chúc thì người còn lại cũng không có quyền định đoạt toàn bộ mảnh đất cho người mình chỉ định. Bởi khi vợ/chồng chết thì người còn lại cùng với hàng thừa kế thứ nhất sẽ được thừa hưởng phần di sản chia theo pháp luật do người chết để lại. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng di sản như nhau. Cụ thể.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Như vậy có nghĩa là, kể cả trong trường hợp vợ/chồng chết trước mà không có di chúc thì người còn lại vẫn chỉ có quyền quyết định với phần di sản mà mình được quyền hưởng (trừ trường hợp là người thừa kế duy nhất).

Dù là gì đi chăng nữa thì việc có 1 bản di chúc khi mình còn sống thể hiện ý chí của mình trong việc định đoạt tài sản không bao giờ là thừa thãi.

Hi vọng bài viết này sẽ có ích! Trong trường hợp có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý về di chúc của Luật sư X. Xin hãy liên hệ: 0833 102 102.

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về luật sư tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay

 

 

Từ khóa: