Một số lưu ý khi phát nhạc có bản quyền tại các trung tâm thương mại?

Không phải bài hát nào cũng được phép sử dụng tùy tiện phát trực tiếp tại các địa điểm kinh doanh, trung tâm thương mại mà việc đó có thể phải trả phí cho người tạo ra sản phẩm. Việc trả phí dựa vào việc bài hát đó đã được đăng kí bảo hộ quyền tác giả hay chưa hoặc còn hiệu lực bảo hộ hay không. Vậy pháp luật quy định như thế nào về việc phát nhạc tại các trung tâm thương mại, địa điểm kinh doanh? 

Căn cứ:
 


Nội dung tư vấn:

1. Trung tâm thương mại là gì? Bản quyền âm nhạc là gì? 
Trung tâm thương mại, có thể nói nó là một tòa nhà lớn, một loại mô hình tập trung kinh doanh hiện đại, tập trung các cửa hàng, thương hiệu với mục đích tổ chức hoạt động buôn bán, cung ứng dịch vụ,... hay cho thuê các hội trường, phòng họp, văn phòng. 
Bài hát là một sản phẩm trí tuệ, tài sản vô hình, việc trả phí là lẽ đương nhiên với mục đích cơ bản là tôn trọng công sức, thời gian, tiền bạc của người tạo ra tác phẩm đó. Theo đó thì bản quyền âm nhạc là quyền của tác giả đã tạo ra bài hát sau khi đã đăng kí bảo hộ bản quyền, nôm na là tùy vào mục đích sử dụng phải được sự cho phép và có thu phí khi sử dụng bài hát. 
Việc các trung tâm thương mại sử dụng âm nhạc giúp môi trường mua sắm trở nên sôi động, tăng sức mua của khách hàng, quảng bá thương hiệu, tối đa hóa doanh thu. Tuy nhiên, một số địa điểm trung tâm thương mại không chú ý đến việc phát các bài hát, chỉ phát theo cảm hứng, bài nào đang nổi thì bật nhằm thu hút khách hàng, cạnh tranh với các khu vực khác mà không nắm rõ pháp luật về việc sử dụng các bài hát có bản quyền.

Ví dụ: Bài hát “Hãy trao cho anh” là một bài hát của Sơn Tùng, trở thành hiện tượng mạng trong thời gian gần đây. Vì giai điệu bắt tai nên các cửa hàng hoặc các trung tâm mua sắm bật bài hát này để thu hút khách hàng ghé thăm. Tuy nhiên đây là một bài hát đã đăng kí bản quyền nên nếu cơ quan chức năng kiểm tra mà không có giấy phép sẽ chịu phạt theo quy định của pháp luật. 


2. Các trường hợp sử dụng bài hát phải trả phí
Căn cứ Điều 26 luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 có quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không xin phép tác giả nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao, cụ thể như sau:

  • Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm (không áp dụng với tác phẩm điện ảnh) đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền hoặc dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép.
  • Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm (không áp dụng với tác phẩm điện ảnh) đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép.

Quy định về mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán:

  • Do các bên thoả thuận.
  • Trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.

Điều 26. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao
1. Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng. Mức nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác và phương thức thanh toán do các bên thoả thuận; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định của Chính phủ hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.
Tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng không có tài trợ, quảng cáo hoặc không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng theo quy định của Chính phủ.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.

 

3. Mức xử phạt khi vi phạm

Căn cứ Điều 29 nghị định 131/2013/NĐ-CP, tùy vào mức độ và hình thức vi phạm mà người vi phạm có thể chịu mức phạt cao nhất là 25.000.000 đồng khi không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp cụ thể như sau:

  • Phạt tối đa 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch, cửa hàng, siêu thị.
  • Phạt tối đa 15.000.000 đồng đối với hành vi Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng thương mại trong lĩnh vực hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh thương mại khác.
  • Phạt tối đa 25.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính viễn thông, môi trường kỹ thuật số.

Điều 29. Hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch, cửa hàng, siêu thị mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại để phát sóng mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định;
b) Sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong lĩnh vực hàng không, giao thông công cộng và các hoạt động kinh doanh thương mại khác mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu theo quy định.
3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại trong cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ bưu chính viễn thông, môi trường kỹ thuật số mà không trả tiền sử dụng cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc dỡ bỏ bản sao bản ghi âm, ghi hình dưới hình thức điện tử, trên môi trường Internet và kỹ thuật số đối với hành vi quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.


Như vậy, các bạn hãy tìm hiểu thật kĩ và có giấy phép đầy đủ trước khi phát bất kì bài hát nào đó trong khu vực thương mại để tránh các rủi ro pháp lí nhé.
Mong bài viết hữu ích cho bạn đọc!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ doanh nghiệp Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay.
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ