Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất

  

Luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thông pháp luật  Việt Nam. Theo đó các tội danh sẽ được phân hoá theo các dấu hiệu cụ thể nhằm phân biệt với các tội danh khác. Việc xác định hành vi thuộc quy định của tội này hay tội khác phụ thuộc vào những đăc trưng cơ bản. Trong đó tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là một trường hợp như thế.

Căn cứ

Nội dung tư vấn

1. Thế nào là công nhiên chiếm đoạt tài sản?

Theo từ điển Tiếng Việt thì cụm từ công nhiên có nghĩa là làm việc gì đó một cách công khai trước mọi người (nói về việc mà thường không dám làm công khai).

Ví dụ như công nhiên ăn đút lót, cậy có thế lực nên công nhiên làm càn..v.v

Công nhiên chiếm đoạt tài sản là một tội danh riêng lẽ trong Bộ luật hình sự (BLHS). Điều này xuất phát từ mục đích phân hoá tội phạm và để phân biệt với các tội danh khác trong BLHS.

 

2. Công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản đã được quy định rõ chế tài xử phạt tại điều 172 bộ luật hình sự cụ thể như sau

Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

 

Về mặt khách quan của tội này có dấu hiệu sau:

– Về hành vi: Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai. Được hiểu là việc chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội không cần che giấu hành vi phạm tội, hành vi đó được thực hiện trước mặt người bị hại và những người khác.

Ở đây sự "công nhiên" được thể hiện qua hành vi công khai, không cần che giấu hành vi phạm tội. Nó khác với hành vi trộm cắp (lén lút che giấu hành vi) và có phần giống với tội cướp tài sản. Tuy nhiên nếu hành vi cướp tài sản được thực hiện một cách công khai không có ý định che giấu và kèm theo yếu tố dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực thì mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ dừng lại ở yếu tố công khai mà không hề có sự đe doạ tinh thần, sức khoẻ người khác bằng cách dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực như cướp tài sản.

Việc thực hiện hành vi chiếm đoạt này thường là do người phạm tội biết người bị hại không dám hoặc không có đủ khả năng để ngăn chặn hành vi chiếm đoạt tài sản đó (như biết bị hại là người già yếu, người bị hại là trẻ em hay người mất nhận thức hành vi dân sự,…).

Ví dụ dễ hình dung là trường hợp anh A là công nhân điện lực đang treo mình trên trụ điện giữa đồng (loại trụ đường dây truyền tải lớn). B đi ngang và nhận thấy chiếc xe mà A đang để phía dưới có sẳn chìa khoá nên đã leo lên lái xe chạy đi mặc cho anh A hô hoáng nhưng không có ai nghe thấy.

Ở đây việc nạn nhân không thể thực hiện việc ngăn cản hành vi của tội phạm có thể chủ quan hoặc khách quan, như đang phải bận làm 1 việc gì đó rất cấp bách, thiên tai, chỗ đông người hoặc những hoàn cảnh khách quan khác như thiên tai, hoả hoạn …Tuy nhiên, những sự vướng mắc này phải là do khách quan hoặc do người khác gây ra chứ không phải do người phạm tội gây ra. Trường hợp nếu người phạm tội tự mình gây ra trường hợp cấp bách đó thì lúc này được xem là hành vi "dùng thủ đoạn khác" để thực hiện một số tội trong Bộ luật hình sự.

- Về giá trị tài sản: Giá trị chiếm đoạt tài sản phải từ 2.000.000 (hai triệu đồng) trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới hai triệu đồng thì phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiêm đoạt (như trộm cắp, lừa đảo tài sản…) hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt (như tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản…) chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự vê tội này.

Khách thể: Hành vi nêu trên trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Mặt chủ quan:  Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Chủ thể:  Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. 

Theo như quy định tại Điều 172 trên và đối chiếu với các quy định khác của BLHS thì trường hợp người từ đủ 16 tuổi sẽ chịu trách nhiệm hình sự trong tất cả các trường hợp. Riêng người đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS ở Khoản 3 và Khoản 4 Điều 172 mà thôi.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có 4 khung hình phạt và một hình phạt bổ sung. Trong đó, mức thấp nhất là phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, mức cao nhất là phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. 

Ngoài việc phải chịu hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Xem thêm:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội gì?

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về luật sư tranh tụng tại Việt Nam
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay 
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ