Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng xử lý thế nào?

bởi QuachThiNgocAnh
Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

Hiện nay xảy ra tình trạng nhiều công trình sau khi hoàn thành thi công đưa vào sử dụng mặc dù chưa tới giới hạn đã để xay ra tình trạng xuống cấp, hư hỏng thậm chí là đổ sập không chỉ ảnh hưởng tới tài sản của người dân mà thậm chí là cả sức khở, tính mạng của họ. Việc xây dựng cần đáp ứng các điều kiện và quy trình thực hiện theo quy định pháp luật để tránh những trường hợp không đáng có xảy ra. Tuy nhiên nhiều đối tượng lợi dụng việc thi công công trình đã bòn rút, rút bớt vật liệu thi công hoặc sử dụng các nguyên liệu không đảm bảo chất lượng dẫn tới những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Vậy những đối tượng vi phạm này sẽ bị xử lý như thế nào? Pháp luật quy định ra sao về tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng? Và để làm rõ vấn đề này, Luật sư X xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết “Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Căn cứ pháp lý

Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định Bộ luật hình sự

Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tạo Điều 298 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Theo đó:

Điều 298. Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào vi phạm quy định về xây dựng trong lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, giám sát, nghiệm thu công trình hoặc lĩnh vực khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 224 và Điều 281 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Cấu thành tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

Cấu thành tội phạm là các yếu tố cơ bản để xác định một hành vi có phải là tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự hay không. Có 4 yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: Mặt khác quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể. Và chỉ khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố này tương ứng với một tội xác định được quy định tại Bộ luật hình sự thì hành vi vi phạm mới được coi là tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự với người thực hiện.

Theo đó cấu thành tội phạm của tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng như sau:

Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng

Mặt khách quan

Mặt khách quan của cấu thành tội phạm được thể hiện rõ nhất tại yếu tố hành vi khách quan và bên cạnh đó là các yếu tố khác như hậu quả, thời gian, địa điểm, công cụ phương tiện thực hiện tội pham,… Tùy vào từng tội cụ thể mà các yếu tố này sẽ có vai trò bắt buộc hay không.

Hành vi khách quan

Về hành vi khách quan của tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội vi phạm quy định về xây dựng có thể thực hiện một trong các hành vi sau đây:

– Vi phạm các quy định về khảo sát:

Khi xây dựng một công trình dù là lớn hay nhỏ thì công việc khảo sát bao giờ cũng là công việc đầu tiên, khảo sát đúng là tiền đề cho thiết kế chính xác. Khảo sát như là sự khởi đầu của quá trình xây dựng. Thực tế có không ít công trình do vi phạm các quy định về khảo sát nên dẫn đến chất lượng công trình kém, thậm chí bị sụp đổ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Vi phạm các quy định về khảo sát là khảo sát không đúng, không đầy đủ các quy định của Nhà nước về khảo sát.

– Vi phạm các quy định về thiết kế:

Sau khảo sát là khâu thiết kế công trình, công việc này do các kiến trúc sư đảm nhiệm. Tuy nhiên, đối với các công trình nhỏ của cá nhân hoặc các công trình không yêu cầu kỹ thuật cao thì việc thiết kế thường do chính chủ đầu tư thực hiện. Dù là kiến trúc sư hay do chủ đầu tư thiết kế mà vi phạm các quy định về thiết kế mà gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về xây dựng.

Vi phạm các quy định về thiết kế là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về thiết kế.

– Vi phạm các quy định về thi công:

Thi công không đúng quy định thì công trình cũng không thể đảm bảo; những công trình bị xuống cấp, bị hư hỏng, thậm chí chưa đưa vào sử dụng đã bị đổ, bị sập chủ yếu là do khâu thi công; những người tổ chức thi công hoặc trực tiếp thi công đã bớt vật tư, thiết bị.

Vi phạm các quy định về thi công là thi công không đúng với thiết kế đã được phê duyệt như: việc trộn bê tông không đúng quy trình kỹ thuật, không bảo đảm chất lượng; việc hàn các mối hàn không bảo đảm kỹ thuật…

– Vi phạm các quy định về sử dụng nguyên liệu, vật liệu

Trong quá trình thi công một công trình, căn cứ vào thiết kế, đơn vị thi công phải tuân thủ các quy định về việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu đã được xác định trong bản thiết kế, việc thay đổi nguyên liệu, vật liệu phải được sự đồng ý của bên thiết kế và chủ đầu tư; nếu bên thi công tự ý thay đổi việc sử dụng nguyên liệu,vật liệu là vi phạm và do việc thay đổi đó mà gây ra hậu quả thì người quyết định việc thay đổi đó phải chịu trách nhiệm.

– Vi phạm các quy định về sử dụng máy móc

Trong xây dựng, nhất là đối với các công trình lớn theo quy định một số hạng mục cần phải thi công bằng máy móc như cần cẩu, máy trộn bê tông, máy đầm… xã hội càng phát triển, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào xây dựng càng cao thì việc sử dụng máy móc để xây dựng càng phát triển; máy móc dần dần thay thế lao động thủ công là một tất yếu.

Hành vi vi phạm các quy định về sử dụng máy móc là việc sử dụng máy móc trong khi thi công không đúng quy định như: theo quy định thì việc trộn bê tông phải trộn bằng máy trộn bê tông nhưng người phụ trách thi công lại quyết định trộn bằng tay; quy định là phải dùng máy đầm mặt đường nhưng lại đầm bằng tay…

– Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình

Nghiệm thu công trình là khâu kết thúc của quá trình xây dựng. Nếu công trình xây dựng đúng khảo sát, đúng thiết kế, đúng thi công không vi phạm gì về xây dựng thì việc nghiệm thu không có vấn đề gì. Tuy nhiên, những công trình xây dựng kém chất lượng, thậm chí bị hư hỏng nặng, bị sụp đổ…là do khâu nghiệm thu đã bỏ qua các vi phạm trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công nên đã không phát hiện được những vi phạm. Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình không phải là hành vi trực tiếp gây ra những thiệt hại do hành vi vi phạm các quy định về xây dựng, mà là hành vi thiếu trách nhiệm trong khâu nghiệm thu nên để lọt những vi phạm trong xây dựng dẫn đến những thiệt hại cho xã hội.

Vi phạm các quy định về nghiệm thu công trình là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về nghiệm thu công trình như: công trình không bảo đảm chất lượng, không đúng với thiết kế nhưng vẫn nghiệm thu…

– Vi phạm các quy định khác về xây dựng

Khi liệt kê các hành vi vi phạm về xây dựng, nhưng vì thực tế trong xây dựng còn có thể có những hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng mà không thể liệt kê hết được nên nhà làm luật đã quy định có tính chất dự phòng để tránh tình trạng lọt tội.

Vi phạm các quy định khác về xây dựng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của Nhà nước về xây dựng ngoài các hành vi vi phạm vềtrong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình.

Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Hậu quả thiệt hại phải có quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm quy định về xây dựng. Nếu hành vi vi phạm các quy định về xây dựng mà chưa gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì chưa cấu thành tội phạm.

Theo Điều 298 Bộ luật hình sự thì hậu quả của tội phạm này được quy định bao gồm:

  • Hậu quả chết người;
  • Hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe với tỉ lệ tổn thương cơ thể của một người hoặc tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của nhiều người là 61% trở lên;
  • Hậu quả thiệt hại từ tài sản từ 100 triệu đồng trở lên.

Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện dưới các yếu tố lỗi, động cơ, mục đích,…

Lỗi của người vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng là lỗi vô ý. Người phạm tội khi có hành vi vi phạm quy định về xây dựng không mong muốn gây ra sự cố công trình xây dựng mà tin hậu quả đó không xảy ra hoặc không thấy trước hậu quả đó do cẩu thả.

Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này là người có trách nhiệm tuân thủ quy định về xây dựng trong hoạt động xây dựng. Họ có thể là người có trách nhiệm trong khảo sát xây dựng, trong thiết kế xây dựng, trong thi công xây dựng, trong nghiệm thu công trình xây dựng cũng như trong giám sát thi công xây dựng công trình, trong thẩm định, phê duyệt thiết kế, trong giám sát tác giả (giám sát thi công của bên thiết kế).

Khách thể

Tội vi phạm quy định về xây dựng là tội phạm xâm phạm đến sự an toàn về xây dựng mà cụ thể là sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, nghiệm thu công trình hoặc trong các lĩnh vực khác.

Người phạm tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng chịu hình phạt ra sao?

Điều 298 Bộ luật hình sự quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng quy định 3 khung hình phạt chính và 1 khung hình phạt bổ sung đối với người vi phạm. Cụ thể:

– Khung hình phạt cơ bản được quy định là phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Hai khung hình phạt tăng nặng được quy định là hình phạt tù từ từ 03 năm đến 10 năm và từ 07 năm đến 15 năm.

Các dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng được quy định là dấu hiệu thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

– Khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là hình phạt tiền tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thông tin liên hệ

Vấn đề “Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” đã được chúng tôi cung cấp qua thông tin bài viết trên. Luật Sư X luôn có sự hỗ trợ nhiệt tình từ các chuyên viên tư vấn pháp lý, quý khách hàng có vướng mắc hoặc nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý về vấn đề quy định tạm ngừng kinh doanhx,,… vui lòng liên hệ đến hotline 0833102102. Chúng tôi sẽ giải quyết các khúc mắc của khách hàng, làm các dịch vụ một cách nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện.

Hoặc bạn có thể tham khảo thêm các kênh sau:

Mời bạn xem thêm

Câu hỏi thường gặp

Xác định thiệt hại về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe, tài sản như thế nào?

Hiện nay chưa có hướng dẫn thế nào là thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản của người khác do hành vi vi phạm quy định về xây dựng gây ra. Tuy nhiên có thể xem xét tương tự như đối với thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản như đối với các tội phạm khác do vô ý. Do đó có thể căn cứ vào Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng để xác định trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, tài sản do hành vi vi phạm quy định về xây dựng gây ra, cụ thể là: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên là gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ; có thể gây ra cho một người và có thể gây ra cho nhiều người. Nếu gây ra cho nhiều người mà tổng tỷ lệ thương tật của mỗi người chưa đến 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật của nhiều người từ 31% trở lên thì cũng coi là gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác. Gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác là trường hợp gây thiệt hại về tài sản cho người khác có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

Hình phạt bổ sung của Tội vi phạm về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng?

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cần chú ý:
– Nếu đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính thì không áp dụng hình phạt này là hình phạt bổ sung nữa;
 -Toà án có thể vừa áp dụng hình phạt tiền vừa áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định hoặc chỉ áp dụng một loại hình phạt.
 – Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì phải ghi rõ là cấm đảm nhiệm chức vụ gì, cầm hành nghề gì, cấm làm công việc gì mà không được ghi cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề và làm công việc nhất định một cách chung chung.

Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng bị xử lý như thế nào?

Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại Điều 224 Bộ luật hình sự như sau:
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Quyết định đầu tư xây dựng không đúng quy định của Luật Xây dựng;
b) Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, điều chỉnh dự toán, nghiệm thu công trình sử dụng vốn của Nhà nước trái với quy định của Luật Xây dựng;
c) Lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng;
d) Dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, xây dựng công trình.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:
a) Vì vụ lợi;
b) Có tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5/5 - (1 bình chọn)

Có thể bạn quan tâm