Khởi tố bị can là gì?

Nhiều người thắc mắc đã có khởi tố vụ án sao lại còn có khởi tố bị can? Đây cũng là điều dễ hiểu vì nó cũng là khái niệm dễ gây nhầm lẫn nếu như không am hiểu kiến thức pháp luật hình sự. Nếu khởi tố vụ án là khởi tố về hành vi có dấu hiệu phạm tội thì khởi tố bị can là khởi tố người hoặc pháp nhân có dấu hiệu phạm tội. Vậy khởi tố bị can là gì? Quy định pháp luật về vấn đề này như thế nào? Làm sao để phân biệt với khởi tố vụ án? Trong nội dung bài viết dưới đây Luật sư X sẽ cung cấp thông tin về khởi tố bị can cho bạn đọc hiểu rõ hơn.


Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 ;
  • Các văn bản pháp luật có liên quan khác.


Nội dung tư vấn

1. Khởi tố bị can là gì?

Khởi tố bị can là việc quyết định bằng văn bản của Cơ quan điều tra đối với một người khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý để áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều tra đối với người đó. Cần chú ý là, đối với một người tuy chưa thực hiện các hành vi khách quan của một tội phạm cụ thể, nhưng đang hoặc đã thực hiện việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng (giai đoạn chuẩn bị phạm tội) thì vẫn có thể bị khởi tố.

Tham khảo thêm bài viết: Khởi tố vụ án là gì?

2. Quy định pháp luật về khởi tố bị can

Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 179. Khởi tố bị can

1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

2. Quyết định khởi tố bị can ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.

Trường hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.

3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.

Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.

4. Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.

5. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.

Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án.

Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.


Trước khi quyết định khởi tố bị can cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải có chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng; làm rõ đó là tội phạm gì, quy định ở điều, khoản nào của Bộ luật hình sự (trong trường hợp họ bị khởi tố về nhiều tội thì phải ghi đầy đủ các tội đó và các điều luật đã áp dụng); xác định họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của người bị khởi tố, thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm như thủ đoạn, phương tiện phạm tội, lỗi, có hay không các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự… Những nội dung này phải được ghi vào quyết định khởi tố bị can.

Người có thẩm quyền quyết định khởi tố bị can gồm:

  • Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra;
  • Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát;
  • Cán bộ của các cơ quan ‘được giao quyền hạn điều tra gồm: Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Trưởng đồn, Phó trưởng đồn biên phòng; Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu và Cục Kiểm tra sau thông quan của Tổng cục Hải quan, Cục trưởng, Phó cục trưởng cục Hải quan cấp tỉnh, Chi cục trưởng chi cục Hải quan được Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chỉ định; Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng, Phó chi cục trưởng chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm. Những người này có quyền khởi tố bị can khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của đơn vị mình đối với tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng.

 

So với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có một số sự thay đổi như sau:

  • Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định “Sau khi khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh chỉ bản của bị can và đưa vào hồ sơ vụ án” nhưng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 lại bỏ quy định này

 

3. Phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can

Khởi tố vụ án, khởi tố bị can được hiểu là những việc làm của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc ra quyết định khởi tố vụ án (hoặc quyết định không khởi tố vụ án) và quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên khởi tố vụ án và khởi tố bị can có những điểm khác nhau để nhận diện từng loại cụ thể:

Thứ nhất, về đối tượng:

  • Khởi tố vụ án: Đối tượng của quyết định khởi tố Khởi tố về HÀNH VI có dấu hiệu phạm tội
  • Khởi tố bị can: Khởi tố NGƯỜI hoặc PHÁP NHÂN có dấu hiệu phạm tội.

Thứ hai, căn cứ khởi tố:

  • Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
  • Tố giác của cá nhân;
  • Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
  • Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
  • Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
  • Người phạm tội tự thú (Điều 143 BLTTHS 2015)
  • Khởi tố bị can: Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra (Điều 179 BLTTHS 2015)

Thứ ba, thẩm quyền ra quyết định khởi tố:

  • Khởi tố vụ án có 04 cơ quan:
  • Cơ quan điều tra.
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát;
  • Hội đồng xét xử.
  • Khởi tố bị cáo có 03 cơ quan:
  • Cơ quan điều tra.
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát.

Thứ tư, các giai đoạn ra quyết định khởi tố:

  • Khởi tố vụ án có 04 giai đoạn có thể khởi tố:
    • Giai đoạn khởi tố;
    • Giai đoạn điều tra;
    • Giai đoạn truy tố;
    • Giai đoạn xét xử.
  • Khởi tố bị can có 02 giai đoạn có thể khởi tố:
    • Giai đoạn điều tra;
    • Giai đoạn truy tố.

Thứ năm, kết thúc khởi tố:

  • Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm).
  • Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Thứ sáu, mối quan hệ:

  • Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can. (vì sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can).
  • Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như trường hợp bắt tội phạm quả tang)

Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc!

Khuyến nghị

  1. LSX là thương hiệu hàng đầu về luật sư hình sự tại Việt Nam.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay.
Hiển thị tất cả kết quả cho ""
ĐẶT LỊCH LÀM VIỆC

Qúy khách có thể đặt lịch để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ Luật sư X với chi phí từ 990.000 đ