Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính

Bên canh những tranh chấp về dân sự, tranh chấp hành chính hiện nay cũng là một trong những vấn đề đáng quan tâm bởi sự gia tăng chóng mặt về số lượng và tính chất phức tạp. Điều đó đòi hỏi các chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm phải có kiến thức về pháp luật tố tụng hành chính, để có thể tự bảo vệ chính quyền lợi của mình. Vậy, khi phát hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc, … cá nhân tổ chức cần tiến hành khởi kiện vụ án hành chính trong thời gian nào là hợp pháp.  Hãy cùng Luật sư X tìm hiểu về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính nhé!

Căn cứ pháp lí

Nội dung tư vấn

1.Khái quát về khởi kiện vụ án hành chính

Khái niệm khởi kiện vụ án hành chính

Khởi kiện vụ án hành chính  là việc các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính chính thức yêu cầu Tòa án thụ lí vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc công chức.

Đặc điểm khởi kiện vụ án hành chính

Thứ nhất, nội dung cơ bản của việc khởi kiện vụ án hành chính là yêu cầu tòa án có thẩm quyền xem xét thụ lí để giải quyết vụ án hành chính. Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án nếu có yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính. Mặt khác, tòa án cũng chỉ xem xét, giải quyết vụ án hành chính trong phạm vi có liên quan đến yêu cầu khởi kiện

Thứ hai, việc khởi kiện vụ án hành chính chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Việc quy định cụ thể về điều kiện khởi kiện là cần thiết nhằm hạn chế việc khởi kiện tùy tiện, gây cản trở không cần thiết đến việc thực hiện quyền lực nhà nước của nền hành chính quốc gia.

Thứ ba, việc khởi kiện vụ án hành chính phải được thực hiện theo những hình thức và nội dung pháp luật quy định.

2.Khái quát về thời hiệu

Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu như sau:

Điều 149: Thời hiệu.

1. Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.

Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.

Ví dụ, ngày 1/1/2017, ông Nguyễn Văn A có hành vi lấn chiếm đất ở của gia đình bà Trần Thị B. Tuy nhiên, đến ngày 3/5/2019. cơ quan có thẩm quyền mới phát hiện ra và lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm đất ở trái phép của ông A. Theo khỏa, 1 điều 6 Luật xử lí vi phạm hành chính 2012 (thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm, đối với các vi phạm hành chính về đất đai), thì hành vi của Nguyễn Văn A đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (đã quá 02 năm kể từ ngày ông A chấm dứt hành vi vi phạm) nên ông A sẽ không bị xử phạt tiền, tuy nhiên vẫn bị áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả. 

3. Thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính. 

Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:

Điều 116:Thời hiệu khởi kiện.

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.

2. Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.

3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.

4. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện.

5. Các quy định của Bộ luật dân sự về cách xác định thời hạn, thời hiệu được áp dụng trong tố tụng hành chính.

Có thể làm rõ nội dung quy định này qua một ví dụ cụ thể như sau:

Ngày 08/07/2017, ông A nhận được quyết định số 19/QĐ-UB của UBND quận B, thuộc tỉnh D về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 150m2  đất ở cho ông. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông A đã xây dựng tường bao 150m2  đất ở đó. Ông C là hàng xóm của ông A, cho rằng A đã xây lấn sang phần đất của ông. Vì vậy, vào ngày 28/07/2018, A đã cho C xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND quận B đã cấp cho A. Lúc này C thấy UBND quận đã cấp một phần đất của mình cho A. Xác định thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trên.

Theo phân tích trên, trong trường hợp ông C không khiếu nại, thì thời hạn sẽ được tính là 1 năm kể từ ngày ông biết đến quyết định số 19 của UBND huyện B. Dựa vào đề bài, vào ngày 28/07/2018, A đã cho C xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND quận B đã cấp cho A, lúc này C thấy UBND quận đã cấp một phần đất của mình cho A, đồng nghĩa với việc C đã biết đến quyết định của UBND Huyện B. Vì vậy, thời hiệu khởi kiện sẽ được tính là 1 năm kể từ ngày 28/07/2018, tức là đến ngày 28/07/2019.

Còn nếu ông C khiếu nại thì 1 năm không được tính từ ngày ông biết đến quyết định nữa, mà tính từ ngày ông C nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND huyện B lần 1 (nếu C khiếu nại 1 lần) hoặc từ ngày ông C nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 (nếu ông C khiếu nại lần 2). Trong trường hợp UBND huyện B không trả lời, thời hạn sẽ là 1 năm tính từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần 1 tối thiểu là 40 ngày, tối đa là 55 ngày (nếu chứng minh được đây là vụ việc phức tạp) (Theo điều 27,28 Luật Khiếu nại 2011). Sau 55 ngày ngày mà ông C chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, kết thúc ngày thứ 55 này, ông C mới được phép nộp đơn khởi kiện lên Tòa án. Thời hạn được tính kể từ khi kết thúc ngay thứ 55 này.

Tuy nhiên, trong trường hợp ông C tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên chủ tịch UBND thành phố, thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 tối thiểu là 55 ngày, và tối đa là 70 ngày theo quy định tại điều 36 và điều 37 Luật khiếu nại 2011. Sau 70 ngày mà ông C chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND thành phố, thì kết thúc ngày thứ 70 này, ông C mới có quyền nộp đơn khởi kiện lên Tòa án để giải quyết. Nếu hết thời hạn khiếu nại lần 1 mà ông C đã quyết định chọn khiếu nại lần 2 thì ông C không được khởi kiện ngay lập tức nữa, mà phải chờ giải quyết khiếu nại lần 2 xong thì ông mới được kiện. Thời hạn được tính từ khi kết thúc ngày thứ 70 này.

4. Đánh giá quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính trong Luật Tố tụng hành chính 2015.

Trước thời điểm Luật Tố tụng hành chính  có hiệu lực thi hành, theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đối với hầu hết các loại việc, sau khi đã giải quyết khiếu nại lần 1 hoặc lần 2 (hoặc quá thời hạn không được giải quyết), nếu người dân không đồng ý có thể khởi kiện ra tòa án để được giải quyết. Sau khi Luật Tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực thi hành, tổ chức, cá nhân không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỉ luật buộc thôi việc thì có thể khởi kiện vụ án hành chính mà không phải khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền khiếu nại lần đầu hoặc lần hai. Luật Tố tụng hành chính 2015 ra đời tiếp tục kế thừa những ưu điểm đó của luật cũ, theo hướng đơn giải hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Quy định như vậy sẽ đáp ứng được yêu cầu mở rộng quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân được tự do lựa chọn cách thức giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, mở rộng dân chủ trong xã hội, giảm bớt áp lực cho các cơ quan nhà nước.

Việc quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính là cần thiết để người khởi kiện có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết và cân nhắc, lựa chọn việc có khởi kiện vụ án hành chính hay không. So với các quy định thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật tố tụng hình sự, Luật khiếu nại tố cáo thì thời hiệu trong luật Tố tụng hành chính được quy định cụ thể hơn theo từng nội dung khởi kiện của đương sự. Việc quy định về thời hiệu khởi kiện khác nhau đối với từng loại và trường hợp khởi kiện khác nhau như vậy là hợp lí. Bởi lẽ, các khiếu kiện hành chính rất đa dạng, liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Có khởi kiện hàh chính cần quy định thời gian rất ngắn như khởi kiện về danh sách cử tri bầu cả đại biểu quốc hội và danh sách cử tri bầu của hội đồng nhân dân, nhưng cũng có những khiếu kiện hành chính có thể quy định thời hiệu dài hơn như khởi kiện trong lĩnh vực đất đai, xây dựng,…nên khong thẻ quy định chung một thời hiệu khởi kiện cho tất cả các khiếu kiện hành chính. Điều này phù hợp với nguyên tắc đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện trong tố tụng hành chính. 

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tiễn công tác kiểm soát giải quyết vụ án hành chính, có thể thấy quy đinh thời hiệu khởi kiện 01 năm là quá ngắn, đôi khi chưa đảm bảo để người khởi kiện lựa chọn thực hiện quyền khởi kiện của mình. 

Mặt khác, trong một vài trường hợp, việc nhận định như thế nào là “Biết được” rất khó khăn. Bởi lẽ, chỉ cần nghe người khác nói, người khác thông tin có một quyết định hành chính thế này, như thế kia cũng là ” biết được” về quyết định hành chính đó rồi. Nhưng để quyết định khởi kiện hay không thì người khởi kiện phải biết rõ quyết định đó như thế nào, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình ra sao, cần phải xem xét đến hình thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của quyết định, từ đó mới có thể quyết định khởi kiện hay không. 

Hơn nữa, Luật Tố tụng hành chính chưa quy định cụ thể về các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như thế nào được gọi là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan? Nếu quy định này không được làm rõ thì sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc không thống nhất giữa các Toà án, địa phương. Ví dụ: Trong trường hợp người dân đang quản lí sử dụng đất hợp pháp nhưng cơ quan nhà nước lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác từ các năm trước mà người sử dụng đất không biết, nay người đang sử dụng đất mới biết thì thời hiệu khởi kiện được xem xét như  thế nào? Trường hợp này có được áp dụng quy định  về trở ngại khách quan để không áp dụng thời hiệu khởi kiện hay không?

Hi vọng bài viết hữu ích đối với bạn đọc !

Khuyến nghị

1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam
2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay